Hà Nội, trở lực từ những nếp cũ
Thứ sáu, 21/06/2013 - 10:10 AM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
Minh họa: ĐÀO HẢI PHONG

Thủ đô Hà Nội tự hào với truyền thống văn hiến, với nét ứng xử văn minh thanh lịch. Nhưng đôi khi, “sức nặng” của truyền thống khiến người ta ít đề cập đến nhược điểm trong tính cách người Hà Nội. Có những nét tính cách, những cách ứng xử phù hợp với cuộc sống khi xưa chưa hẳn đã hay với cuộc sống hôm nay, đặc biệt, trong bối cảnh tốc độ phát triển, hội nhập với thế giới ngày một mạnh mẽ.

 

Phố cổ Hà Nội giống như chiếc áo đẹp được khoác lên một cơ thể phát tướng. Cơ thể ấy cứ phát phì mãi, chiếc áo sứt chỉ, có những vết rạn và người ta phải vá víu. Với mật độ hơn 800 người/km2, phố cổ là nơi có mật độ dân cư đông nhất cả nước. Người ta kêu khổ vì chật chội, khổ vì các công trình vệ sinh... cổ, khổ vì mấy gia đình phải quây một góc sân chung bằng bàn tay làm bếp… Nhưng bảo họ chuyển đến nơi khác sinh sống, dường như là một thách thức. Đôi khi chỉ cần bán vài mét vuông trong ngõ, người ta cũng có thể mua được một căn hộ chung cư khang trang. Nhưng câu trả lời thường là không. Đến giờ, khi quận Hoàn Kiếm có đề án giãn dân khỏi phố cổ, thách thức lớn nhất vẫn là việc thuyết phục làm sao người dân bỏ nơi khổ, đến nơi… sướng.

Với bề dày văn hóa ngàn năm, người ta thường nói đến nét đẹp trong tính cách, trong văn hóa ứng xử người Hà Nội mà ít nói đến nhược điểm. Nhưng có tính cách nào hoàn toàn chỉ gồm những ưu điểm? Người Hà Nội cũng thế. Người Hà Nội rất ngại thay đổi. Thay vì thay đổi, người ta bằng lòng với cuộc sống trong những căn nhà phố cổ, rất nhiều trong số đó chật hẹp, tối tăm, ẩm thấp.

Văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ là văn hóa nông nghiệp lúa nước, văn hóa làng. Người Hà Nội không phải ai xa lạ. Cho dù dân cư Hà Nội luôn biến động bởi những luồng di cư mới, nhưng phần đông cư dân Thủ đô đều gốc gác từ đồng ruộng, đều đi lên từ làng. Mặc cho đô thị đã hình thành nhiều thế kỷ, dấu vết của văn hóa làng vẫn còn đọng lại rõ nét. Với văn hóa nông nghiệp lúa nước, văn hóa làng, yếu tố “tĩnh” giữ vị trí chủ đạo.

Tôi quen thân một gia đình nhiều đời kinh doanh một mặt hàng truyền thống tại khu phố cổ. Khi thế hệ trước tính chuyện bàn giao công việc kinh doanh cho thế hệ sau, ông bà hỏi ý kiến của con cái về phương hướng làm ăn. Một người con nói sẽ mở trang web, quảng bá sản phẩm trên mạng, đi đến các cơ sở có nhu cầu về mặt hàng này tiếp thị sản phẩm. Ông chủ gia đình tủm tỉm cười: Bản thân cửa hàng nhà mình đã là một thương hiệu gia truyền, việc làm như vậy chẳng phải đã biến mình giống như những cửa hàng khác? Ông chủ phủ nhận kế hoạch mới. Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là hai trọng điểm kinh tế của cả nước. Nhưng nếu so sánh về số lượng (và cả “chất lượng”) những ông chủ tập đoàn, công ty ở hai khu vực này, không khó để thấy, cán cân lệch hẳn về phương nam. Tôi từng có nhiều băn khoăn về vấn đề này. Đến khi biết câu chuyện trên, tôi mới hiểu nguyên nhân. Kinh doanh kiểu cổ điển “hữu xạ tự nhiên hương” không phải là dở. Nhưng khi trung thành với lối làm ăn cũ, đồng nghĩa với việc từ chối những cơ hội mới có thể mở ra.

Cho dù dân cư Hà Nội luôn biến động bởi những luồng di cư mới, nhưng phần đông cư dân Thủ đô đều gốc gác từ đồng ruộng, đều đi lên từ làng.

Đa số những ngôi nhà phố cổ có bề mặt 3-4 mét, rất hiếm để tìm thấy một ngôi nhà tầm cỡ. Có một nguyên nhân không thể chối cãi, là người Hà Nội hài lòng với cách tổ chức như vậy. Đến bây giờ, điều này vẫn còn phổ biến. Người ta phấn đấu để có một ngôi nhà mặt phố, mặt ngõ, để kinh doanh nhỏ. Đến khi cao tuổi, hoặc là truyền lại cửa hàng cho con cháu, hoặc cho thuê cái mặt tiền đó, rồi cặp vợ chồng già “rút lên gác”. Người ta có thể đổ lỗi cho chính quyền về quy hoạch manh mún, nhưng tư duy này của người dân cũng góp phần băm nát các mặt phố. Có thể người Hà Nội chạnh lòng khi có người nói rằng, tư duy tiểu nông vẫn còn trong “cái làng Hà Nội”. Phải chăng, khi vào phương nam, với mong ước mở mang đất mới, ông cha ta có khát vọng chinh phục, rồi tính cách ấy để lại cho đến ngày nay, còn người Hà Nội dường như thiếu mất điều này? Một cách trực tiếp, hay gián tiếp, yếu tố “tĩnh” tác động đến nhiều mặt của cuộc sống. Tôi sẽ ngạc nhiên nếu thấy một “đại gia” nào đó của Hà Nội đem vốn triệu đô đi đầu tư ở Lào, Campuchia, Mianma.

Trước năm 1954, cư dân Hà Nội một phần là người bản địa, phần còn lại chủ yếu đến từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Sau năm 1954, thành phần mở rộng hơn, nhưng chủ yếu vẫn là khu vực miền bắc và Bắc, Trung Trung Bộ. Khi nhìn vào không gian địa lý của những thành phần tạo nên cư dân Hà Nội, tôi chợt nhớ đến cụm từ “sĩ phu Bắc Hà”. Quả tình, rất ít người Hà Nội có gốc gác vượt quá ranh giới Bắc Hà (từ sông Gianh - Quảng Bình trở ra bắc). Sĩ phu Bắc Hà chỉ tầng lớp trí thức xưa. Những điểm hay thì nhiều người đã bàn. Nhưng điểm dở mà ai cũng thừa nhận là sự bảo thủ. Hẳn mọi người còn nhớ, xưa, vì sự bảo thủ này mà rất nhiều trí thức Bắc Hà đã không hợp tác với Vua Quang Trung, ngay cả khi Quang Trung có công đuổi quân Thanh, giữ vững độc lập dân tộc. Sĩ phu Bắc Hà là một sản phẩm thời phong kiến. Những rơi rớt của tư duy này vẫn còn tồn tại đến ngày nay, mà phần tích cực lại không nhiều. Tư duy này cộng hưởng với tính “tĩnh” vốn có, khiến việc tiếp thu cái mới trở nên khó khăn hơn. Kết quả là, sự phát triển của Hà Nội, rất khó kỳ vọng một sự đột phá.

Tính cách của bất kỳ vùng miền nào cũng gồm những cái dở, song hành cùng cái hay. Xã hội luôn vận động, phát triển. Bản thân con người cũng phải thay đổi cho phù hợp. Không thể bê nguyên cung cách ứng xử của một người Hà Nội thanh lịch thuộc hàng kiểu mẫu đầu thế kỷ 20 vào cuộc sống hôm nay. Người ta có thể học văn hóa ứng xử của một vùng miền khác không quá khó khăn. Nhưng thay đổi tư duy, thay đổi tính cách là điều hoàn toàn không dễ dàng. Một vài nhận định hẳn là chưa đầy đủ. Song, nhận diện ưu, nhược điểm trong tính cách của một vùng miền nào đó, nhận diện sự thích hợp hay không thích hợp với sự phát triển của xã hội là điều cần thiết, để mở cánh cửa vào tương lai.

CHÍ DŨNG