Chiến lược nào cho ngành cơ khí? (Tiếp theo và hết) (*)

Thứ Sáu, 09/11/2018, 01:58:46
 Font Size:     |        Print
 

Sản xuất khuôn mẫu linh kiện tại Công ty HTMP Việt Nam (Khu công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, Hà Nội).

Bài 2 : Cần chính sách ổn định, xuyên suốt -

Theo đánh giá của các chuyên gia, chính sách vĩ mô phát triển ngành cơ khí được xây dựng rất tốt, bài bản, nhưng khi triển khai lại chưa hiệu quả, giữa quyết định và tổ chức thực hiện có độ sai lệch lớn, khiến ngành cơ khí chênh vênh như “đi trên dây”. Do đó, cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, bảo đảm tính ổn định, xuyên suốt từ cơ chế đến triển khai thực hiện, tránh tình trạng trước là “trọng điểm”, sau chỉ còn “thí điểm”.

Chính sách chưa sát thực

Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 10/2009/QĐ-TTg về Cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm và Danh mục các sản phẩm cơ khí trọng điểm, Danh mục dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm (giai đoạn 2009 - 2015). Trên cơ sở danh mục các sản phẩm được hưởng ưu đãi theo chương trình, nhiều doanh nghiệp (DN) cơ khí đã chủ động “đón đầu” nghiên cứu, chế tạo các sản phẩm có chất lượng trong diện được nhận ưu đãi, nhưng trên thực tế, sự hỗ trợ không đầy đủ như quy định. Đơn cử, sản phẩm máy xúc LX 200 do Công ty cổ phần LILAMA 69-3 (thuộc Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA) tự sản xuất, chế tạo, đã đoạt giải thưởng khoa học - công nghệ quốc gia, được coi là sản phẩm khoa học có hàm lượng chất xám cao, nhưng đến nay vẫn chưa vượt khỏi hàng rào xưởng chế tạo thiết bị của công ty.

Trong số 12 dự án thuộc danh mục được hỗ trợ, cuối cùng chỉ vỏn vẹn ba dự án được thực hiện nửa chừng, với số tiền 374 tỷ đồng trên tổng số gần 10 nghìn tỷ đồng, đạt tỷ lệ 3,75%. Ngoài ra, có thể kể đến trường hợp ba nhà máy nhiệt điện thực hiện theo Quyết định 1791/QĐ-TTg nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thiết bị. Đến nay, trừ Nhà máy nhiệt điện Sông Hậu 1 do LILAMA làm Tổng thầu EPC, có khả năng đạt và vượt tỷ lệ nội địa hóa thiết bị theo yêu cầu, còn lại hai dự án Quảng Trạch 1 và Quỳnh Lập 1 nếu đấu thầu quốc tế, khả năng chắc chắn sẽ rơi vào tay DN nước ngoài, đồng nghĩa với việc tỷ lệ nội địa hóa bằng 0.

Phó Chủ tịch Hiệp hội DN cơ khí Việt Nam (VAMI) Nguyễn Chỉ Sáng cho biết: Nhiều người vẫn nói vui “Chính sách ở trên trời, còn cuộc đời ở dưới đất”, nếu thực tế hai dự án Quảng Trạch 1 và Quỳnh Lập 1 sau này đúng như dự báo, sẽ là một thất bại về nhiều mặt, các DN cơ khí trong nước vừa mất cơ hội có thêm việc làm, nâng cao năng lực, vừa cho thấy các chính sách, định hướng thiếu hiệu quả, không được thực thi nghiêm túc, cản trở mục tiêu đề ra và kìm hãm nền kinh tế đất nước.

Tại hai dự án nhiệt điện Sông Hậu 1 và Long Phú 1, những khó khăn trong công tác thực thanh, thực chi theo Quyết định 2414/QĐ-TTg về điều chỉnh danh mục, tiến độ một số dự án điện và quy định một số cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư các công trình điện cấp bách giai đoạn 2013 - 2020 đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công dự án. Tuy đây là chủ trương đúng nhằm hạn chế thất thoát trong thi công xây dựng, nhưng do chưa hoàn thiện hệ thống định mức, đơn giá xây dựng đã khiến khâu thanh, quyết toán bị ách tắc. Đơn giá được kiểm duyệt chặt chẽ, qua nhiều thủ tục phức tạp, nhà thầu chỉ được thanh toán tối đa 80% giá trị gói thầu theo giá tạm tính (20% còn lại phải chờ thống nhất đơn giá mới được thanh toán nốt) và nếu xảy ra lỗi ở khâu nào thì lặp lại quy trình cũ. Những sáng kiến nếu không có trong quy chuẩn, tiêu chuẩn rất khó được thanh toán,… vô hình trung kìm chế đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, đây chính là yếu tố cốt lõi giúp đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa công trình vào khai thác, vận hành thương mại.

Với các DN nhỏ và vừa, cơ chế chính sách khuyến khích, ưu đãi lại càng co hẹp. DN Việt Nam đang phải vay vốn với lãi suất trung hạn khoảng 10%/năm, ngắn hạn khoảng 8%/năm. Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường (Cụm công nghiệp ô-tô Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Hà Nội) Lê Thanh Thủy cho rằng, đối với những DN quy mô vốn chỉ vài chục tỷ đồng, việc tiếp cận nguồn lực đất đai, nhà xưởng rất khó khăn. Vì vậy, việc hình thành các cụm công nghiệp dành cho DN nhỏ và vừa rất quan trọng. Ở Hàn Quốc, có những khu công nghiệp lớn được xây dựng dành riêng cho DN nhỏ có nơi ổn định để hoạt động. Đây là mô hình cần được tham khảo vì nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh bảo đảm lâu dài, sẽ có nhiều DN yên tâm đầu tư.

Tầm nhìn dài hạn

Với đặc thù đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi lâu, ngành cơ khí cần có tầm nhìn dài hạn về thị trường. Một khi đã có thị trường, nhiều DN sẵn sàng mạnh tay đổi mới công nghệ để nâng cao trình độ và năng lực sản xuất. Theo đánh giá của VAMI, nếu có chính sách thị trường hợp lý, ngành cơ khí Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để đáp ứng đến 70% nhu cầu thị trường vào năm 2030. Một trong những cách làm hiệu quả là hình thành các đầu tàu thu hút các vệ tinh chung quanh nhằm hạn chế phân tán nguồn lực, làm bệ đỡ, hỗ trợ các DN cùng nhau phát triển. Chính phủ và DN lớn cần công khai các kế hoạch phát triển cũng như yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, tạo dựng thị trường để các DN khác yên tâm tham gia.

Khi có sự minh bạch về đầu ra, chắc chắn nhiều DN nhỏ và vừa sẽ chủ động đầu tư, nâng cao trình độ công nghệ để trước hết đáp ứng thị trường nội địa, tiếp đó mở rộng ra thế giới, dần dần các sản phẩm cơ khí Việt Nam sẽ được chấp nhận nhiều hơn trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu. Việc tạo dựng thị trường thông qua các DN đầu tàu là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là các chính sách về cơ khí phải ổn định, lâu dài.

Phó Chủ tịch VAMI Nguyễn Chỉ Sáng nhận định, nếu để DN trong nước đơn thương độc mã “chiến đấu” với các “ông lớn” FDI thì cầm chắc phần thua. Do đó, cần có cơ chế đấu thầu trong nước đối với các gói thầu DN nội có thể đảm nhận, đồng thời mạnh dạn giao cho các nhà thầu trong nước có uy tín thi công xây dựng cũng như có chính sách rõ ràng trong việc đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa các dự án vào vận hành thương mại. Đối với DN nhỏ và vừa, nếu có chính sách hỗ trợ hữu hiệu, chắc chắn sẽ còn xuất hiện hàng trăm, hàng nghìn DN như HTMP, Trí Cường và khi đó, ngành cơ khí của Việt Nam sẽ có đủ lực để cạnh tranh sòng phẳng với thế giới.

Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, ngành sản xuất cơ khí Việt Nam đang có xu hướng ngày càng tụt hậu, không đủ sức giữ được “sân nhà”, chứ chưa nói đến mở rộng xuất khẩu. Nguyên Chủ tịch VAMI Nguyễn Văn Thụ cho rằng, đây là hậu quả của chính sách đầu tư thiếu coi trọng phát triển công nghiệp cơ khí, không lựa chọn những sản phẩm cơ khí chủ yếu, cũng như thiếu sự tổ chức, quản lý đầu tư của Nhà nước.

Trên cơ sở ngành cơ khí có thể làm tốt được nhiều chủng loại sản phẩm, nhưng nguồn lực tài chính của đất nước có hạn, Chính phủ nên tập trung rà soát lại một số sản phẩm cơ khí trọng điểm có thị trường và điều kiện phát triển tốt như đóng tàu, chế tạo thiết bị đồng bộ, thiết bị điện, ô-tô, máy động lực, máy nông nghiệp,… để ban hành chính sách hỗ trợ kịp thời, tập trung hơn, tránh tình trạng chính sách vĩ mô tốt, nhưng triển khai kém hiệu quả. Ngoài ra, đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách, cần có chế tài bắt buộc sử dụng vật tư, thiết bị do Việt Nam sản xuất đạt tiêu chuẩn.

Qua tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, cho thấy lĩnh vực đóng tàu phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thiếu vắng những đội tàu có chất lượng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành T.Ư khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 vừa ban hành xác định phát triển hợp lý ngành công nghiệp đóng tàu. Tổng Giám đốc Nhà máy đóng tàu Dung Quất (DQS) Phan Tử Giang nhận định, đây sẽ là cơ sở để các DN chủ động đầu tư vì muốn trở thành quốc gia mạnh về biển, phải tự đóng được đội tàu, tránh phụ thuộc. Tuy nhiên, hiện nay, DQS vẫn đang bị những vấn đề tồn đọng trước đây bủa vây, cần cơ chế khoanh lại những khoản nợ cũ để có thể tham gia đấu thầu những dự án mới, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Nếu được đầu tư thêm cầu tàu (khoảng 300 tỷ đồng), nhà máy sẽ hoạt động hiệu quả hơn nhiều vì với thực trạng mặt bằng như hiện nay, không thu hút được các đơn hàng sửa chữa, đóng mới.

Tình trạng chung của phần lớn DN cơ khí trong nước hiện nay là đều yếu về thiết bị, công nghệ, trình độ quản lý sản xuất hay nghiên cứu thị trường,… dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, kém cạnh tranh. Vì thế, tuy dung lượng thị trường cơ khí nội địa không nhỏ, nhưng DN vẫn không khai thác được. Các mảng quan trọng như đóng tàu, máy nông nghiệp, công nghiệp khai thác dầu khí, hệ thống năng lượng, giao thông, vận tải,… hầu như bị DN nước ngoài thao túng và chiếm lĩnh. Ngoài những điểm yếu nội tại, ngành cơ khí cũng chưa gắn kết chặt chẽ với các ngành công nghiệp khác.

Theo Phó Cục trưởng Công nghiệp (Bộ Công thương) Phạm Tuấn Anh, ngay thị trường trong nước, các DN cơ khí cũng khó tham gia vào các dự án đầu tư lắp đặt thiết bị một số ngành công nghiệp như thép, hóa chất, năng lượng,… Nguyên nhân trước hết là do các cam kết thương mại tự do khiến nhiều hàng rào thuế quan bảo hộ sản xuất trong nước bị gỡ bỏ, trong khi năng lực cạnh tranh vẫn chưa được cải thiện. Thêm nữa, hàng rào kỹ thuật lĩnh vực cơ khí cũng chưa đủ mạnh để bảo vệ thị trường trong nước trước hàng nhập khẩu. Các DN cơ khí đã yếu, lại thiếu đầu ra cho sản phẩm cho nên càng không có điều kiện tích lũy và đổi mới công nghệ. Đây chính là vòng luẩn quẩn trong quá trình phát triển ngành cơ khí mà chưa có lời giải thỏa đáng.

Để thúc đẩy sự phát triển của các DN cơ khí, nhất là DN nhỏ và vừa (chiếm phần lớn), việc hỗ trợ thêm những nguồn lực về vốn, đất đai, lãi suất,... rất quan trọng. Tuy nhiên, điều mà nhiều DN quan tâm không hẳn chỉ là ưu đãi, mà quan trọng hơn là sự ổn định của chính sách. Việc thực thi kém hiệu quả các chủ trương, chính sách về ngành cơ khí trong thời gian qua đã khiến niềm tin của các DN giảm sút, thị trường mất định hướng. Do đó, cần có những thay đổi căn bản và mạnh mẽ hơn trong việc chỉ đạo, tổ chức triển khai các chính sách phát triển ngành cơ khí để giúp DN có chiến lược kinh doanh bài bản và tầm nhìn dài hạn, tạo cơ hội phát triển tốt hơn trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay.

* Bài 1: Bỏ ngỏ thị trường

-------------------------------------------------
(★) Xem Báo Nhân Dân số ra ngày 8-11-2018.

Thời gian qua, dường như chúng ta có sự ưu ái hơn cho DN FDI với nhiều đãi ngộ về thuế, đất đai, thậm chí một số DN lớn còn được “mặc cả” chính sách riêng, ngoài ra họ còn được vay vốn từ nước ngoài với lãi suất thấp. Mặc dù Nhà nước cũng có một số gói vay ưu đãi dành cho công nghiệp hỗ trợ và Công ty HTMP cũng tiếp cận gói vay ngắn hạn khoảng 20 đến 30 tỷ đồng, nhưng thời gian vay quá ngắn, lãi suất chỉ giảm khoảng 1%/năm, không thấm vào đâu so nhu cầu của DN.

NGUYỄN VĂN HÀO
Phó Giám đốc Công ty HTMP Việt Nam

Bài, ảnh: XUÂN THỦY và VIỆT HẢI

Chia sẻ