Sức xuân trong trò diễn Bài Chòi Quảng Nam

NDĐT - Bài viết này, chúng tôi xin lạm bàn về sức sống của trò diễn bài chòi với một ít tham vọng giải mã các biểu tượng văn hóa của trò chơi - trò diễn xướng bài chòi, thử nghĩ về hướng tồn tại và phát triển của thú chơi này trong đời sống đương đại, đặc biệt là với các sinh hoạt văn hóa địa phương.

Lược sử một trò diễn

Bài chòi là một trò chơi, trò diễn dân gian thường được tổ chức vào dịp Tết Nguyên Đán ở vùng Nam Trung Bộ mà cụ thể là từ Huế trở vào đến Ninh Thuận. Vì là một trò diễn, một sinh hoạt cộng đồng sôi động nằm trong lễ hội Tết Cả (Nguyên Đán), bài chòi qua những biểu hiện của mình từ thời điểm, thể thức dựng chòi, thể thức chơi, cách hô hát trình diễn... mang tính biểu tượng văn hóa, luôn cuốn hút sự nghiên cứu giải mã biểu tượng của các nhà văn hóa học.

Trước hết, xét trong hành trình trao truyền văn hóa của dân tộc, một câu hỏi đặt ra là tại sao trò diễn này chỉ từ Huế trở vào và chỉ hạn định ở khu vực Nam Trung Bộ? Ta thấy trên bước đường Nam tiến của cha ông, việc hình thành các tỉnh thành mới ở vùng đất này chỉ thật sự bắt đầu từ sau 1471- thời điểm vua Lê Thánh Tông lập Quảng Nam Thừa Tuyên đạo. Và người dân chỉ “an cư lạc nghiệp” khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng làm cuộc “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558. Điều này có thể cho thấy đây là thời kỳ văn hóa Đại Việt khởi sự gặp gỡ, tiếp biến với văn hóa Champa và các dân tộc khác. Văn hóa Đại Việt từ ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Hán trở về với cơ tầng văn hóa Đông Nam Á có cội nguồn chung. Điều này, chúng tôi sẽ trở lại khi lạm bàn về biểu tượng văn hoá của trò chơi, trò diễn bài chòi ở phần sau.

Trước hết, trò chơi bài chòi là đánh trên chòi. Vào dịp cuối năm cũ, đầu năm mới người ta dựng chín chòi con, một chòi cái, khách ngồi trên chòi mà chơi bài, anh hiệu đứng ở chòi trung tâm cuối dãy chòi (các chòi bố trí hai hàng hình chữ U).

Điều lạ là, theo thời gian, cách thức này đã diễn ra hết sức “tuỳ tiện” nghĩa là người ta có thể không dựng chòi, chỉ bày các hàng ghế giữa trời, dựng cây nêu, treo ống bài nọc, anh hiệu đứng hô, khách chơi ngồi trên ghế...

Suốt miền Trung người ta thường không gọi là bài ghế mà vẫn cứ gọi là bài chòi. Lại có những địa phương, người ta trải chiếu dưới đất, ngồi bệt hai hàng, thì cách gọi cũng không “ăn theo” bài tới hay các loại bài khác.

Vì sao đánh bài trên chòi?

Trở lại câu hỏi “vì sao lại đánh trên chòi?”- Có nhà nghiên cứu liên tưởng đến các trường thi ngày xưa để “thiêng hoá”, làm sang trọng trò chơi dân giã là bài chòi. Thế nhưng sau lớp phủ văn hóa có vẻ chính thống ấy, phải chăng trò chơi bài chòi đã tái hiện hoạt động nông nghiệp xa xưa của cư dân Đông Nam Á nói chung, cư dân phía Nam đèo Ngang Việt Nam nói riêng mà những vết tích xây dựng như thế vẫn còn trong thời hiện đại.

Các chòi tranh, tre, nứa, lá... của trò chơi bài chòi giống như các chòi canh dưa, canh lúa, canh bắp, đậu.... để xua chim chóc. Còn nhớ trong cuốn sách “ Ô châu cận lục” do Dương Văn An nhuận sắc (1553) đoạn viết về các làng thuộc Duy Xuyên hiện nay “Lỗi Sơn, Chiêm Sơn đóng cửa gỗ đề phòng mãnh thú” và cũng ở đất này giới khảo cổ học đã khai quật được một nhà sàn được đoán định vào thời kỳ tiền Champa.

Nhà nghiên cứu Lê Văn Chưởng:

“Chòi cũng là hình dáng thu nhỏ của cái nhà sàn ven sông, đầm... của những người dân sống nghề chài lưới hay chăn nuôi và đôi khi với nghề làm ruộng rẫy” (Lê Văn Chưởng-Hô bài chòi, một loại hình dân ca mùa xuân-Tạp chí Văn học, Hà Nội số 3/1984). Người Quảng gọi các nhà sàn ven sông, đầm, ao là “nhà chồ”.

Trình diễn bài chòi ở Hội An, Quảng Nam

Nét độc đáo của Bài chòi

Thể thức tổ chức hội bài chòi ở các tỉnh Nam Trung Bộ cơ bản giống nhau, chỉ khác có nơi dùng bộ bài 30 cặp (như vậy phải dựng 10 chòi), có nơi như Bình Định dùng bộ bài 27 cặp (chỉ cần dựng 9 chòi). Mỗi con bài có một tên, trừ một số ít tên nôm na, dễ hiểu như Học trò, Dái voi, Bạch huê, Thái tử... còn phần lớn nghe rất lạ tai như Ba gà, Bát bồng, Ngũ trưa, Nọc thược, Tứ cẳng, Tam quăng... Tên mỗi con bài đều có hai từ, phần lớn các từ đầu là từ chỉ số đếm, có khi là thuần Việt như Ba (gà), Bảy (liễu), Chín (gối), có khi là từ Hán Việt như Tam (quăng), Tứ (cẳng), Lục (chạng)...v.v ...

 Pho Sách

Một số lớn tên các quân bài khác được ghép bằng một từ Hán Việt và một từ thuần Việt.

Vì sao lại như vậy, ý nghĩa tên các con bài là gì, những câu hỏi đó mãi đánh đố các nhà nghiên cứu.

 Pho Văn

Một số hình vẽ như con Sáu tiền vẽ sáu nửa đồng tiền ghép lại với nhau từng đôi một, đôi này chồng lên đôi kia, rồi con Tám tiền cũng vậy, gợi sự giàu có, vô ức tiền. Con Tứ tượng theo cách gọi của Huế, Quảng Nam gọi một cách nghịch ngợm là Dái voi được vẽ hoàn toàn cách điệu, tối giản chỉ còn các nét vạch giống như các mẫu hoa văn trang trí của người miền núi. Con Nọc đượng (Huế), Quảng Nam gọi là Nọc thược, hình vẽ hết sức lạ, nhìn từ một bên thấy giống một mái nhà sàn ở Tây Nguyên, trên đỉnh mái nhà, đầu một con chim đã được kiểu thức hoá giống đầu chim gõ kiến hay đầu một con gà thường được người miền núi trang trí trên nóc nhà sàn. Chim cũng là hình ảnh chỉ dương vật. Con Bạch huê, hình vẽ giống như hai nhánh lá hoặc hai nhánh rong, nhánh ở trên là nét nổi bật trên nền trắng, nhánh dưới là nét trắng nổi bật trên nền đen.

 Pho Vạn

Nhà nghiên cứu Huỳnh Hữu Uỷ

“Đấy là âm vật được cách điệu một cách bay bướm, nhẹ nhàng, do thế đã tránh được cái nặng nề, mô tả đối tượng theo lối chính xác” (Huỳnh Hữu Uỷ-Tạp chí Sông Hương Tết Kỷ Tỵ số 35/1989).

Hình con Tứ gióng cũng là hình ảnh gắn bó với người làm nông nghiệp, ngư nghiệp nhiều thế kỷ của dân tộc Việt trên đường Nam tiến. Các quân bài Nọc thược, Bạch huê dễ liên tưởng đến tục thờ Linga, Yoni của dân tộc Chàm - cũng đồng thời là tục thờ sinh thực khí của người Việt phía Bắc. Tục thờ sinh thực khí là biểu tượng của năng lực thiêng sinh ra muôn loài. Hình ảnh nọc thược là hình ảnh cái cọc thẳng đứng được vạt nhọn để cắm vào đất giống như “cái gậy chọc lỗ để gieo hạt”, như thế “Linga và Yoni như chày và cối, chiếc chìa vôi cắm vào bình vôi, đũa bông cắm vào quả trứng trên quan tài người chết....” (Đỗ Lai Thúy-Từ cái nhìn văn hóa-NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1999tr.11).

Như vậy, dương vật, âm vật, gióng gánh, bạc tiền, dái, rún, bồng, mỏ, liễu... tên quân bài và hình vẽ cho ta cái cảm giác về lẽ phồn sinh thấp thoáng có mặt khắp nơi.

Hình vẽ, tên gọi các quân bài biểu đạt những nét sinh hoạt của một vùng đất nông nghiệp, nông thôn mà sức mạnh của “lệ làng”, của ước vọng phồn thực, vạn vật sinh nở khiến những yếu tố có vẻ đối lập lại được đồng đẳng, ngang hàng như quân Học trò, Thái tử... sang quý đặt lẫn với âm vật, dương vật (Bạch huê, Nọc thược). Quân Ông ầm khiến người ta liên tưởng đến tục thờ thần Sấm, sấm làm mưa cho lúa mùa tươi tốt của cư dân thờ lúa, cầu nước, cầu mùa.

Nhà nghiên cứu Huỳnh Hữu Uỷ

Các hình vẽ bài chòi tựa “cách nhìn của những trường phái hội hoạ mới, từ chối hình thể hay thanh lọc thực tại đến kỳ cùng, trừu tượng hóa sự vật, hoặc đi đến chỗ siêu thực tại, hoặc cách điệu và ghi nhận thực tại một cách ngây ngô, hồn nhiên như trẻ con... Nó phảng phất đâu đây một chút không khí u uất rất Chàm hay Phù Nam, những hình ảnh, đường nét, kiểu thức rất Tây Nguyên, có khi lại gợi dậy một chút xa xăm phi thực, mù mờ của bùa chú, hay của một cuộc sống hoang dã bên ngoài cõi đời văn minh”(Huỳnh Hữu Uỷ-Tạp chí Sông Hương Tết Kỷ Tỵ số 35/1989).
Sức thanh xuân của một trò chơi cổ

Cách thức hô hát: Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khởi thuỷ của trò chơi là cách hô tên quân bài, sau đó mới tiến đến hô thành câu (lục bát), rồi hô một đoạn, một bài để dẫn nhập về tên con bài.

  • Nghệ sĩ ưu tú Phan Ngạn nhìn nhận “cái xuân của một loại hình là từ chỗ hô tên con bài tiến đến hô một câu lục bát có mang tên con bài, chẳng hạn:

  • Quờ mà quớ quơ
  • Quơ nhầm thì vợ chửa
  • Ba bốn tháng rày thì thổi lửa
  • Râu là quăn râu
  • Quăn quơ là Tam quăn”

Con Ông ầm thì “vai mang túi bạc kè kè- nói bậy nói bạ thiên hạ nghe ầm ầm”.

Nhà nghiên cứu Trương Đình Quang vạch diễn trình bài chòi từ bài chòi câu đến bài chòi truyện, bài chòi từ đất lên dàn (sàn). Nhà nghiên cứu Mịch Quang cho rằng hô bài “không phải là hô tên con bài” mà “hô là thể gốc trong ca nhạc phù thuỷ có lẽ do bắt nguồn từ việc “hô phong hoán vũ” (kêu mây gọi gió) rồi từ đấy hình thành thể loại hô bài, là một thể loại trong diễn xướng dân gian xưa gồm hò, hố, hô, lý”.

Nhà nghiên cứu Mịch Quang

“Hô bài mang sắc thái tấu nhiều hơn ca hát, cũng xin nói thêm rằng trong diễn xướng dân gian, các thể hò, hố, hô được áp dụng cho những điệu diễn xướng tự do chưa có kết cấu khúc thức và các thể: hát, lý, ca được áp dụng cho các ca khúc dân gian” ( Mịch Quang-Ca kịch bài chòi, những vấn đề nghệ thuật-NXB Viện Sân Khấu, Hà Nội 1993).

Vai trò của « anh hiệu »

Cho dù có nhiều ý kiến khác nhau về quan niệm hô, hát, ai ai cũng đều nhìn nhận công đầu của nghệ thuật diễn xướng bài chòi thuộc về anh hiệu. Có thể anh hiệu hô, rồi hát (hô tên con bài hay hát để dẫn nhập về tên con bài) thì rốt cuộc tài năng là ở chỗ anh đã ứng tác tại chỗ cho công chúng xem, nghe như một nghệ sĩ sáng tác, một diễn viên chính hiệu. Vì vậy anh hiệu chính là “ông tổ của hô hát bài chòi” ( Phan Ngạn-Ca kịch bài chòi... sđd).

Chắc chắn anh hiệu chính là nghệ nhân dân gian, anh có tài năng quan sát, cảm nhận, sắp xếp các sự kiện, các lớp lang “nhân tình thế thái”, tổ chức nghệ thuật ngôn từ rồi thể hiện trước công chúng.

Sau này theo diễn tiến của nghệ thuật hô hát, anh hiệu tự phân nhiều vai để diễn một tuồng tích, một hoạt cảnh, ca cảnh... Sau này có từng nhóm nghệ nhân phân vai diễn để diễn các tích tuồng đưa bài chòi từ đất (diễn xướng dân gian) lên sân khấu (kịch hát bài chòi).

Như thế, nghệ thuật diễn xướng bài chòi là một “hệ thống mở” về cách thức hô hát, biểu diễn.

Từ năm làn điệu cơ bản: nói vè, xuân nữ, cổ bản, xàng xê, hồ quảng... các nghệ sĩ sáng tác đã sáng tạo những bài mới như một ca khúc dân gian cho sân khấu kịch hát bài chòi như Hoàng Lê với “Đất Hồ lòng Hán” , “Vọng Kim lang”, “Lía Phôn”, “Lía Phấu”..., Văn Cận với “Tình duyên cung oán”, Cung Nghinh với “Trách hoa”, “Dâng tướng quân”, Lệ Thi với “Chiêu Quân”...

Anh hiệu có được tài năng ứng tác như vậy cũng là nhờ công sức sáng tác của các ông đồ hay chữ ở các làng, các xóm.

Sau thời kỳ phôi thai, bài chòi từ câu đến từng đoạn, bài thì nội dung không còn hạn định để chỉ tên quân bài mà nội dung hô hát mở rộng đến muôn mặt cuộc sống, lời hô hát phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, cảnh huống, thói quen liên tưởng đến quân bài. Lời hô hát chắc chắn phải mượn khá nhiều những nội dung của văn chương truyền miệng ở tục ngữ, ca dao, thành ngữ, dân ca...

  • Chẳng hạn, bốc trúng quân bài Tứ cẳng, anh hiệu hô:

  • Một hai họ chối rằng không
  • Không trăng hoa ong bướm, không tư thông tư tình
  • Vậy cứ xin ra bãi đếm lại cho rành
  • Dấu chân ai bốn cái, hiện nguyên hình mà coi
  • Bắc thang lên hỏi ông trời
  • Ở dưới hạ giới có ai người bốn chân?
  • Gặp quân Học trò, anh hô:

  • Bà con các xóm, các chòm
  • Có nghe các ả luôn mồm chê bai
  • Nào chê tốn vải lưng dài
  • Chê ăn no bụng lại quay ra nằm
  • Chê bèo cũng chẳng biết băm
  • Con gà không biết trói, con tằm chẳng biết nuôi
  • Chê thôi, chê ủng, chê ôi
  • Vậy mà khi mô chộ mặt lại ngược xuôi liếc hoài
  • Cho nên mới có câu này
  • Trầu nguồn chưa nhấm đã cay
  • Mấy cô gái đẹp đều về tay... ai hè?

Ở Quảng Nam, ngoài cách hô Nọc thược, Bạch huê nội dung chung chung như ở Huế, Bình Định “... Nó thiệt cục gân, ngồi gần con gái trân trân chẳng xìu” (Nọc thược), “... Hoa phi đào phi cúc, sắc phi lục phi hồng... có bông, có cuống, không cành, chính giữa có nụ, bốn vành có tua, nhà dân cho chí nhà vua, ai ai có của cũng mua để dành, tử tôn do thử nhi sanh, Bạch huê mỹ hiệu xin phành ra coi” (Bạch huê).

  • Ở Quảng Nam, anh hiệu hô:

  • Thưa bà con, ông bà ta có câu
  • Làm thời như con dĩ, con dì...
  • Mỗi khi thấy mặt đòi xì tiền ra
  • Sống trong bao lớp lụa là
  • Không dang mưa, chẳng dang nắng, chú mi mà đen thui thui
  • Làm chị em than đứng thở ngồi
  • Là cái con... Nọc thược khiến em bậu thời tê mê

Anh hiệu vận dụng câu thành ngữ Quảng Nam “Làm như c. thấy mặt đòi tiền” cũng là chỉ quân Nọc thược. Lần khác cũng con Nọc thược, anh hô: “Tiếc công mẹ đẻ cha nuôi-Có con không giữ để họ lùi thâu đêm-Đàn ông lại có cái nêm-Đàn bà sánh nhụy, lại thêm mé đàn”.

Anh hô con Bạch huê một cách cụ thể, tục mà thanh “Nhà nghèo chơi với nhà giàu - Đứng lên ngồi xuống nó đau cái gì?- Đau cái Bạch huề (mà là) đau cái Bạch huê”.

Có người cho những câu hô hát bài chòi kiểu này là dung tục thì không hiểu hết tính chất biểu hiện của ước vọng phồn thực và một sinh hoạt dân gian cốt để giải trí, để giải toả căng thẳng, áp lực của đời sống vào dịp cuối năm, vào dịp đình đám hội hè mừng năm mới với khát vọng phồn sinh.

  • Về cách thức hô hát, từ xa xưa, hô hát bài chòi cũng đã đa dạng cách thức có lối nói lối của hát bội kết hợp với kể vè, nói lía... Khi có người chơi trúng thưởng, anh hiệu nói lối:

  • Hiệu hoang mang lĩnh lấy khay tiền
  • Lên tráng mã điện cờ đệ nhất
  • Rồi , phụ việc đâu, mau đem kim ngân, trầu rượu mà thưởng cho quý khách hử!
  • Rồi tấu:

  • “Dạ minh niên xin chúc cô bằng các thứ hoa
  • Hoa lê, hoa lý lại chen bông hoa đào
  • Tháng năm nước biển mặn mà, vác mai đi xoi là cái bông hoa giếng, hay tập hay luyện là cái bông chim chim, xuống biển hay chìm là bông hoa đá, bạn bè với cá là cái bông san hô, ở chốn hoa hồ là cái bông mụt lẹo, không xiên không xẹo là cái bông chỉ thiên, nở búp hàng miên là cái bông hoa hổ. Ngồi đâu choán chỗ là cái bông hanh hao, mọc ở bờ ao là cái bông ốc điếc, chúc cô duyên tết như cái thư hoa, xin chúc toàn gia là cái bông vạn thọ. Minh niên hiệu xin có điều là vài điều. Điều quớ là đủ điều”.

Câu hô bài chòi từ lục bát đến lục bát biến thể rồi thâu thái cả song thất lục bát, thơ bốn câu, thơ năm câu, lối nói lối tự do dài hơi. Hiện nay, các làn điệu của kịch hát bài chòi cũng làm cho việc hô hát thêm đa dạng, phong phú, như ở Hội An, người chơi, người xem được nghe Ngọc Huệ, Thu Hương, Nguyễn Đáng, Văn Quý... hát “Vọng Kim lang”, “Đất Hồ lòng Hán”, lý đi chợ, lý con cu, lý xăm... (các làn điệu dân ca Quảng Nam).

 Hội bài chòi mừng xuân
Biểu diễn: Trung tâm VHTT Hội An

Hô hát bài chòi như vậy cứ mỗi năm cứ mãi thanh xuân bằng cách tiếp nhận những tinh hoa sáng tạo của các nghệ sĩ sáng tác dựa trên chất liệu âm nhạc của bài chòi truyền thống, bằng ứng tác, ứng diễn nội dung các sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng xã hội, phê phán cái xấu, nâng niu ca ngợi cái đẹp, cái tốt, vốn như diễn trình của diễn xướng bài chòi “bắt đầu từ một nhu cầu giải trí nảy sinh ra một nhu cầu thẩm mỹ là bước khai sinh của hô bài chòi” ( Phan Ngạn-Bài đã dẫn) của anh, chị hiệu.