Kiểm lâm "cắm" bản
Chủ nhật, 16/06/2013 - 01:55 AM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
Kiểm lâm xây dựng bếp tiết kiệm củi cho dân.

Ðổi mới phương thức hoạt động cho phù hợp tình hình thực tế, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Cạn thành lập các chốt, trạm kiểm lâm tại các cửa rừng, khu vực xung yếu chung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Bắc Cạn), đưa kiểm lâm viên xuống "cắm" bản. Hiệu quả là rừng được bảo vệ, công tác dân vận được tăng cường, xóa đói, giảm nghèo tiến triển theo hướng bền vững. 

 

"Chảy máu" rừng

Con đường đất gồ ghề liên xã từ Lạng San sang Ân Tình thuộc huyện Na Rì dài gần mười cây số men theo chân núi Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (KBT Kim Hỷ), xuyên qua các làng, bản của đồng bào dân tộc thiểu số với những mái nhà sàn nằm sát những cánh rừng nguyên sinh trên núi đá rậm rạp. Ðến đầu bản Thẳm Mu thì hết đường, nhiều hộ dân cư trú giáp rừng nghiến cổ thụ vài trăm năm tuổi. Sống ngay dưới rừng nghiến, gia đình ông Bàn Văn Học nhiều năm nay không hề khai thác một cây nghiến nào, vì nghĩ rằng "ăn của rừng rưng rưng nước mắt". Ông cho biết: "Bà con ở đây sống gần rừng, gỗ nghiến lại có giá trị kinh tế cao, không khai thác trái phép mới là lạ. Vào KBT ngay sau nhà cắt cục thớt nghiến có đường kính 40 cm, dày 30 cm mang bán cho "đầu nậu" được ngay 250 nghìn đồng. Một ngày "làm" hai cục thớt, bằng cày cấy một sào ruộng cả năm trời".

Trước đây, dùng búa phải mất hai ngày mới chặt đổ một cây nghiến cổ thụ hai người ôm, không chặt được thì đốt gốc, lửa cháy âm ỉ đến cả tuần mới ngả được cây nghiến. Vài năm gần đây, với chiếc cưa máy trong tay, chỉ mất 15 phút là đã "kết liễu" cây nghiến có tuổi bốn, năm trăm năm. Hạ gỗ xuống, suốt ngày chỉ rình rập, lén lút cắt thớt mang đi bán. Bởi thế, trong 24 hộ đồng bào dân tộc Dao ở bản Thẳm Mu này thì có đến 16 hộ có cưa máy, mỗi chiếc trị giá từ 13 đến 15 triệu đồng. Nhiều hộ bán trâu, vay cả tiền ngân hàng mua cưa máy để "làm" thớt mang đi bán, kiếm tiền nhiều, nhanh hơn làm ruộng và chăn nuôi, cho nên những năm trước, cánh đồng Thẳm Mu bỏ hoang hóa vì người dân bỏ ruộng đi cưa thớt. 

Từ bản Thẳm Mu vào KBT Kim Hỷ, ngược khe Thẳm Mu lên rừng ở phía trên, nhiều cây nghiến thẳng tắp, to một, hai người ôm đổ rạp, nhiều khúc đang xẻ dở, thớt nghiến lệch tâm bị bỏ lại nằm ngổn ngang. Luồn sang các địa danh "nổi tiếng" một thời như Lủng Cậu, Lủng Duốc, rẽ sang bên xã Lương Thượng là Lủng Cà, Lủng Phấy, ở đâu cũng thấy lòng đất từng bị đào bới, "gặm nhấm" nham nhở để tìm vàng khiến nhiều cây rừng trơ gốc rễ, đổ khi có gió lớn. Ðến lũng Lủng Phúng, bắt gặp hai vợ chồng anh Nguyễn Công Thanh và cậu con trai lớn nhà ở bản Vằng Khít, xã Lương Thượng đang hý hoáy đào bới từng xô đất đổ vào máng đãi vàng, quần áo, từ đầu đến chân bùn đất bê bết, mặt mũi lấm lem. Chị vợ anh Thanh thật thà phân trần: "Nhà thiếu đất canh tác, hằng ngày hai vợ chồng cùng con trai vác cuốc, xẻng, máng vào lũng Lủng Phúng nằm sâu trong KBT Kim Hỷ này đãi "sái". Chẳng ăn thua mấy, mỗi ngày chỉ được sáu, bảy "vẩy" vàng, bán được hơn 200 nghìn đồng để mua gạo, thực phẩm cho cả gia đình sáu miệng ăn, hôm nào trời mưa không vào được rừng là đói". Chốt trưởng Thẳm Mu Nguyễn Duy Quyến nói như muốn giải thích: "Trong lòng KBT Kim Hỷ có vàng sa khoáng, chúng tôi thường xuyên tuần tra truy quét đấy, nhưng cũng chỉ giải tỏa được những ổ, nhóm có tổ chức, dùng máy móc, phương tiện khai thác có quy mô, xâm hại KBT một cách thô bạo. Còn khai thác thủ công nhỏ lẻ như vợ chồng anh Thanh đây thì cũng khó ngăn chặn". Cùng đoàn cán bộ, kiểm lâm KBT đi tuần rừng, lúc gặp vách đá dựng đứng, lúc lại xuống hủm sâu kẹp giữa hai dãy núi dưới tiết trời nắng nóng, trong rừng không khí càng âm u ngột ngạt, lá cây rừng quất vào mặt, vào cổ bỏng rát, chân phồng rộp mà vẫn phải lầm lũi, mải miết đi, mặt trời lặn khuất phía chân trời cũng ra đến cửa rừng Vằng Khít, dở tấm bản đồ ra xem, gần một ngày luồn rừng mà mới đi được một vòng bằng bàn tay trên tấm bản đồ KBT Kim Hỷ to gần bằng mặt bàn.

Gần rừng bám bản

KBT Kim Hỷ rộng lớn, trải rộng trên diện tích bảy xã thuộc hai huyện, địa hình hiểm trở, chia cắt, hiện nay chỉ có gần 30 cán bộ kiểm lâm, không thể ngày nào cũng thực hiện được những cuộc tuần tra, kiểm soát rừng. Lực lượng kiểm lâm ở xa, sáng xuống địa bàn, tối về, không thể có mặt thường xuyên tại cơ sở thì làm sao giữ được rừng? Khắc phục vấn đề này, từ năm 2011, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn và Ban Quản lý KBT Kim Hỷ tổ chức lại việc quản lý, bảo vệ KBT, thành lập các chốt, trạm kiểm lâm ở các cửa ngõ, khu vực xung yếu, các thôn, bản là "điểm nóng" của tình trạng khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép. Ðồng thời, cử kiểm lâm viên xuống "cắm" ở các trạm, chốt để gần rừng, bám bản lâu dài, "ba cùng" với dân.

Hầu hết các chốt, trạm kiểm lâm chung quanh KBT Kim Hỷ được thành lập đến nay đã hơn hai năm nhưng cơ sở vật chất vẫn đang trong tình trạng tạm bợ, cán bộ kiểm lâm phải ăn ở, sinh hoạt trong điều kiện rất khó khăn, thiếu thốn, vất vả. Chốt Thẳm Mu xa tít nơi góc rừng, phải thường xuyên bám bản, chợ ở xa cho nên bữa ăn hằng ngày của hai cán bộ kiểm lâm chủ yếu là cá khô, mì tôm, ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, Tết không được nghỉ. Dịp giáp Tết Quý Tỵ vừa rồi, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh vào thăm, chúc Tết và tặng quà là hai hộp mì tôm, hai kg cá khô làm thực phẩm lâu dài.

Chốt kiểm lâm Nà Lẹng được UBND xã Ân Tình cho mượn một gian nhà cấp bốn làm "văn phòng" cho ba kiểm lâm. Căn phòng vốn chật hẹp, lại là nơi quản lý cưa máy của nhân dân hai thôn Nà Lẹng và Cốc Phe cho nên mùi xăng, dầu đậm đặc bao trùm; anh em quét dọn phòng bên cạnh làm... bếp nấu nướng. Nhưng như thế vẫn còn khả dĩ hơn các trạm kiểm lâm Vằng Khít ở xã Lương Thượng, trạm Nà Mỏ ở cửa ngõ ra vào xã Kim Hỷ và nhiều trạm, chốt khác phải mượn nhà bạt dã chiến của Ban Chỉ huy quân sự huyện căng lên làm "trụ sở, chỉ rộng chừng 5 m2. Trong không gian chật hẹp của nhà bạt, cán bộ kiểm lâm kê ván làm giường ngủ, điện đóm phập phù, thiếu nước sinh hoạt. Trạm trưởng trạm Vằng Khít Triệu Văn Tuệ tâm sự: "Những ngày nắng như đổ lửa thế này, từ 10 giờ sáng trở đi đến chiều tối không thể ở được trong nhà bạt vì nóng hầm hập, phải lánh ra núp tạm dưới tán rừng, gốc cây. Nước sinh hoạt thiếu triền miên, vừa rồi có mấy trận mưa thì mới có nước trong rừng chảy ra, đục lắm, nhưng mà có còn hơn không. Trời nắng nóng đã cực, khi mưa xuống còn khổ hơn, chỗ ở lép nhép nước từ bên ngoài tràn vào, trên mái nhỏ xuống. Tháng trước có mấy trận lốc xoáy, sợ nhà bạt đổ, ba anh em kiểm lâm đội mưa đứng giữ cọc nhà". Ăn ở sinh hoạt thiếu thốn là vậy, nhưng các cán bộ kiểm lâm không ai có ý nghĩ rời bỏ vị trí của mình. "Nhiều người dân thôn Vằng Khít này quen sống dựa vào rừng, thấy chúng tôi sơ hở là lại lén lút vào rừng khai thác vàng, cưa thớt, mỗi ngày có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng. Thế nên từ khi thành lập chốt này, chúng tôi cứ phải bám bản suốt. Ngày 28 Tết Quý Tỵ, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh vào thăm, động viên anh em cố gắng bám trụ vừa giữ rừng, vừa vận động, hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, cấy lúa, chăn nuôi cho bà con", trạm trưởng Tuệ chia sẻ thêm. Ban đầu, nhiều người chuyên khai thác vàng, thớt nghiến ở bản Vằng Khít cho rằng, trạm kiểm lâm dựng tại bản chỉ tạm thời năm, sáu tháng là cùng, với lại điều kiện ăn ở như vậy thì cán bộ kiểm lâm không thể "trụ" được lâu, sẽ phải rút thôi. Khi biết trạm sẽ hiện diện, kiểm lâm "cắm" bản lâu dài thì nhiều người biết rằng, không thể  sống dựa vào rừng được nữa, họ bắt đầu chịu khó chăn nuôi, cày cuốc làm ăn.

Gia đình anh Hoàng Ðức Hùng ở bản Nà Mỏ, xã Kim Hỷ cho mượn thẻo đất ở đầu nhà để bốn kiểm lâm dựng lều bạt dã chiến làm nơi công tác và ăn ở. Trong lều bạt nhỏ, cán bộ kiểm lâm kê ván thay giường, dưới gầm để bát đĩa, nồi niêu, xoong chảo, bếp ga, đến bữa lại mang ra ngoài nấu nướng. Trạm trưởng Hà Văn Hữu cho biết: "Tình hình khai thác gỗ quý hiếm, đào vàng trong khu vực diễn biến phức tạp, nhiều khi anh em kiểm lâm bị theo dõi, nếu không có mặt tại chốt là ô-tô, xe máy vận chuyển xăng, dầu, gỗ nghiến "vù" qua trạm. Vừa nãy có chiếc ô-tô tải chở đầy hàng tạp hóa vào xã, không thể dỡ xuống để kiểm tra cho nên hai kiểm lâm bám theo, đến chỗ chủ xe giao hàng thì phát hiện trên xe chở năm can dầu lớn tiếp tế cho bãi vàng. Hôm nào không có mặt ở đây là "có chuyện", thành ra nhà ở ngay huyện Chợ Mới mà hàng tháng nay tôi có về được đâu. Thu nhập từ lương, phụ cấp vùng cao đặc biệt khó khăn, mỗi tháng tổng cộng hơn ba triệu đồng, tằn tiện mới đủ ăn, tháng nào đi công tác nhiều thì thiếu, cũng... may mà em chưa có gia đình riêng". 

Cũng là kiểm lâm, nhưng làm việc ở Hạt Kiểm lâm huyện Na Rì thì được coi là công chức cho nên mỗi tháng được hưởng phụ cấp công vụ 25% lương; theo quy định thì kiểm lâm KBT là viên chức cho nên không được hưởng phụ cấp gì. Kiểm lâm ở huyện, tỉnh rất "sợ" bị điều động vào làm nhiệm vụ ở KBT Kim Hỷ, phải lấy nhà bạt làm trụ sở và không được hưởng phụ cấp công vụ. Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải xót xa: "Nhiều anh em từ khi được tuyển dụng làm kiểm lâm đã vài ba năm nay, công tác suốt ở các chốt, trạm. Xây dựng nhà kiên cố tại mỗi chốt, trạm này mất hơn 200 triệu đồng, UBND huyện Na Rì đã đề nghị tỉnh đầu tư để xây dựng từ nhiều năm nay, nhưng ngân sách chưa thu xếp được. Chưa có tiền đầu tư từ ngân sách thì chúng tôi đề nghị cho thanh lý số gỗ tịch thu từ khai thác, vận chuyển trái phép để lấy tiền xây dựng trạm, chốt, nhưng cấp có thẩm quyền chưa phê duyệt".

Tạo sinh kế lâu dài cho bà con dân bản 

Vượt qua những bất cập về chế độ chính sách, điều kiện ăn ở thiếu thốn, kiểm lâm "cắm" bản là những cán bộ dân vận gần gũi, tạo sinh kế lâu dài cho người dân sinh sống ở vùng lõi, vùng đệm KBT. Ðồng bào dân tộc Dao ở bản Thẳm Mu trước đây quen sống dựa vào rừng, ruộng đất và vườn bãi bỏ hoang hóa, hai kiểm lâm cắm bản giải thích, vào mùa khô rừng không sinh thủy, không có nước chảy về làm cho cả bản "khát" là bởi khai thác rừng cạn kiệt. Bà con nhận ra tác hại của việc phá rừng, cho nên đã không vào rừng khai thác trái phép, tự giác bán cưa máy, số còn lại mang đến chốt để cán bộ kiểm lâm quản lý, chỉ sử dụng vào những việc có ích. Từ bỏ việc "làm" thớt, không sống dựa vào khai thác rừng trái phép, bà con chuyển sang làm ruộng, cả cánh đồng của bản lại xanh một mầu lúa, ngô, dong riềng. Nhiều hộ bị lốc xoáy "quét" qua tốc mái nhà, cán bộ kiểm lâm kêu gọi bà con chung tay khắc phục, lợp lại mái nhà cho dân. Thấy gia đình anh Hoàng Ðức Hùng nhà ở gần Trạm kiểm lâm Nà Mỏ gặp khó khăn, kiểm lâm viên góp tiền giúp mua phân bón khi thời vụ đến, tình cảm giữa dân bản với kiểm lâm "nằm vùng" thêm thân thiết.

Cán bộ kiểm lâm tại các chốt, trạm cùng chính quyền xã xây dựng dự án trồng rừng tại vùng đệm KBT theo Chương trình 147 của tỉnh, liên hệ với huyện lấy cây giống về, hướng dẫn bà con cách trồng rừng sản xuất, sau sáu, bảy năm được khai thác, khai thác xong lại trồng mới, có thu nhập lâu dài từ rừng trồng. Chủ tịch UBND xã Ân Tình Mã Thiên Hướng phấn khởi nói: "Năm nay xã đề ra chỉ tiêu trồng 17 ha rừng, nhưng bà con đăng ký trồng 20 ha, sẽ trồng xong trong tháng sáu này. Phong trào trồng rừng trên địa bàn xã hai năm qua phát triển mạnh là nhờ có sự vào cuộc tích cực của cán bộ kiểm lâm đấy". Không chỉ ở xã Ân Tình, tất cả các xã vùng đệm KBT, kiểm lâm là người trực tiếp quản lý, tổ chức nhân dân trồng rừng sản xuất. Trong nỗ lực tạo sinh kế lâu dài cho người dân địa phương, sau khi trồng thử nghiệm thành công, đến nay Ban Quản lý KBT Kim Hỷ tổ chức tập huấn, cung cấp phân bón, giống cho nhân dân xã Cao Sơn trồng được 55 ha cây mây nếp dưới tán rừng. Ðây là loại cây dễ trồng, phát triển nhanh, sau ba năm trồng sẽ cho thu hoạch đều đặn trong vòng 20 năm. Mây nếp là loại lâm sản phụ, là nguyên liệu làm bàn ghế, thủ công mỹ nghệ, đan lát, bán được giá, có thị trường tiêu thụ ổn định, mang lại thu nhập bình quân hơn 20 triệu đồng/ha/năm. Lãnh đạo xã Cao Sơn đánh giá cao việc làm của kiểm lâm, chỉ trong một, hai năm nữa, hơn 20% số hộ ở xã vùng cao này sẽ có thu nhập ổn định, đời sống người dân sẽ được cải thiện.

Kiểm lâm "cắm" ở các thôn, bản, cùng sinh hoạt, nói tiếng dân tộc, cùng với dân vận động được phần lớn nhân dân trong vùng không sống ỷ lại, có ý thức tôn trọng lâm luật, có như thế mới bảo vệ được rừng, bước đầu tạo sinh kế để bà con xóa đói, giảm nghèo theo hướng tích cực. Nhưng Giám đốc KBT Kim Hỷ Nguyễn Tiến Dũng, người có tâm huyết với sự nghiệp bảo vệ, phát triển rừng vẫn trăn trở: "Rừng trong KBT Kim Hỷ này vẫn chưa thật sự được bảo vệ tận gốc một cách bền vững, bởi người dân chưa được chia sẻ lợi ích từ rừng khi chính sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, nhóm hộ đã được ban hành mà không có kinh phí để thực hiện. Ðề án giao khoán cho nhân dân bảo vệ rừng đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt mà chưa biết đến bao giờ mới được bố trí kinh phí để khuyến khích nhân dân cùng bảo vệ, phát triển rừng". Như vậy là gần 30 cán bộ kiểm lâm ở 12 chốt, trạm "cắm" bản chung quanh KBT này hằng ngày vẫn phải tổ chức các đợt tuần rừng, truy quét để bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này.

 


Thu giữ phương tiện khai thác vàng trong khu bảo tồn.

Bài và ảnh: THẾ BÌNH