Phóng sự dự thi
Gian nan đời thợ mỏ
Thứ bảy, 20/07/2013 - 10:42 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
Công nhân Công ty cổ phần than Mông Dương khai thác than trong hầm lò.

ND - Trong một ngày giữa tháng bảy, nhiệt độ ngoài trời lên tới gần 380C, khi bị từ chối  không được phép vào lò vì lý do sức khỏe và những tuân thủ ngặt nghèo của kỷ luật an toàn lao động ngành than, tôi đành năn nỉ ban lãnh đạo cho xuống tận chân giếng lò của Công ty cổ phần than Mông Dương (Quảng Ninh) chỉ với mong muốn được vẫy chào những người thợ mỏ vào ca và chờ đón các anh khi ra khỏi lò.

 

Ðể có thể cảm nhận sâu sắc hơn câu hát  "thợ mỏ vào ca cũng là chiến sĩ" và cũng là để chia sẻ sự gian lao, vất vả với những người thợ mỏ thầm lặng, anh hùng.

 Kỷ luật và đồng tâm

 Trên khắp các công trường của công ty than ở Quảng Ninh, đâu đâu cũng bắt gặp những khẩu hiệu "Kỷ luật và đồng tâm", "Văn hóa an toàn của thợ mỏ là con đường phát triển bền vững", "Suy nghĩ về an toàn, làm việc an toàn, gia đình đang đợi bạn ở nhà". Tôi đặc biệt ấn tượng về sáu nguyên tắc "Tự chủ an toàn" của Công ty Than Mông Dương là: "1. Bảo vệ mình; 2. Bảo vệ đồng đội; 3. Không biết không làm; 4. Không an toàn không làm; 5. Không hiểu thì hỏi; 6. Tuân thủ đúng các nội quy, quy định an toàn". Ðiều đó cho thấy, an toàn luôn được đặt lên hàng đầu trong công việc đặc thù của thợ mỏ. Thỉnh thoảng, đâu đó, những tin tức về các vụ tai nạn hầm lò vẫn được các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin. Bản thân những người thợ lò cũng biết rõ về điều đó. Nhưng chứng kiến sự bình thản vào lò của người thợ nơi đây, tôi hiểu rằng, đó không chỉ là biểu hiện của bản lĩnh vững vàng mà còn là nét  đặc trưng của thợ mỏ, được hun đúc qua thời gian, trải qua nhiều thế hệ kỷ luật và đồng tâm mới tạo lập được.

 5 giờ sáng, khi  mặt trời chưa mọc, từng đoàn xe ô-tô nối đuôi nhau đưa, đón cán bộ, công nhân lao động vào cổng công ty chuẩn bị bước vào ca một. Từ lâu, công ty đã chấm dứt tình trạng công nhân đi làm bằng xe máy, nơi đón xa nhất là tuyến Tiên Yên - Ba Chẽ, cách công ty khoảng 30 km. Chủ tịch Công đoàn công ty Trần Quang Cảnh dẫn chúng tôi xuống khu nhà giao ca với hơn mười  phòng, mỗi phòng có khoảng 50 thợ đang chờ nhận lệnh vào lò. Sau cuộc họp bàn giao, phân công nhiệm vụ, tất cả đồng loạt đứng dậy đồng thanh hô lớn ba lần "An toàn! An toàn! An toàn!". Phòng này nối tiếp phòng kia, tạo nên chuỗi âm thanh hừng hực khí thế. Thợ mỏ vào lò trong tâm thế chẳng khác nào các chiến sĩ trước khi ra trận.

 Ca một hôm ấy, có tất cả 550 thợ vào lò, dưới độ sâu âm 250 m so với mặt nước biển. Phải đấu tranh tư tưởng mấy phút, tôi mới dám len lỏi giữa đám đông công nhân để làm quen với một thợ mỏ còn rất trẻ, tên là Nguyễn Thế Hoạt. Vừa tốt nghiệp Trường cao đẳng Mỏ Hồng Cẩm- Quang Hanh, anh Hoạt xin về công ty thực tập vừa trọn hai tuần. Hoạt  tâm sự: "Học ở trường là một chuyện, đối diện thực tế mới thấy sự học là vô bờ bến chị ạ.  Trong trường, bọn em được đào tạo bài bản là thế, vậy mà để nhớ hết hàng trăm thuật ngữ và tiếng "lóng" chỉ thiết bị, thao tác, công đoạn của thợ lò, có người mất cả năm trời mới nhớ, mới gọi được chính xác. Nào là búa lò, xẻng (mai), choòng, thìu dọc (xà dọc), thìu ngang (xà ngang), cái đoản, cột thủy lực (chống lò)... Việc tắm rửa mỗi khi tan ca cũng phải học mới có thể làm sạch  than cám bám trên tóc mai, mí mắt, cả ria mép nữa"... Hỏi cảm giác lần đầu vào lò ra sao, Hoạt cho biết: Em nghe các chú, các anh nói trước đây, lần đầu  đi lò không dễ dàng. Trong lò áp suất lớn, thiếu không khí, rất khó thở, lại sản xuất trên diện rộng, quãng đường đi lại dài. Nhưng hiện nay, công ty đã cải thiện hệ thống quản lý khí gió tự động, cũng như điều kiện đi lại trong hầm lò bằng cách lắp đặt các tuyến tàu chở người đến tận vị trí sản xuất. Do vậy, thời gian đi lại của người lao động được rút ngắn, nâng cao giờ lao động "sống", lại bảo đảm  an toàn".

 Hàng trăm công nhân nai nịt quần áo, dụng cụ bảo hộ lao động đầy đủ, gọn gàng, sẵn sàng vào lò, tôi chỉ kịp hứa với Hoạt, tám tiếng sau, chính tại nơi này, tôi sẽ đón em và đồng đội. Hoạt cười bẽn lẽn. Tôi đứng nhìn theo những bước chân thoăn thoắt của Hoạt và mọi người đi vào những đường lò dài hun hút, nước bùn dưới chân lùng nhùng đen đúa, phía trên là nước ngầm thấm qua vách tí tách rơi, tôi hiểu đã bao đời nay, dòng thợ này, nối tiếp dòng thợ kia, bất chấp hiểm nguy để tìm tòi, chinh phục lòng đất, để tìm được những mỏ "làng đen".

 "Ăn dương gian, làm âm phủ"

 Qua trao đổi ý kiến với lãnh đạo công ty và  cán bộ công đoàn, chúng tôi nhận thấy  cán bộ công đoàn nơi đây rất tích cực tham gia vào công việc chuyên môn cũng như chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, nhằm thu hút thợ lò vào làm việc. Mông Dương là mỏ than hầm lò, khai thác bằng phương pháp giếng đứng, hiện đang khai thác ở độ sâu âm 250 m so với mặt nước biển, điều kiện địa chất rất phức tạp, vỉa lớp không ổn định, áp lực mỏ lớn. Vài năm trở lại đây, tuy bị ảnh hưởng bởi khó khăn chung của nền kinh tế nhưng công ty vẫn tạo đủ việc làm ổn định cho hơn 4.000 công nhân, viên chức, lao động, với mức thu nhập bình quân gần mười triệu đồng/tháng. Nhờ sự quan tâm, chăm lo đời sống công nhân của tập thể ban lãnh đạo công ty, có thời điểm Công ty cổ phần than Mông Dương phải dừng tiếp nhận thợ xin vào. Trong khi đó, tại một số khai trường, công nhân bỏ nghề do công việc quá khó khăn, vất vả, thu nhập bị giảm sút. Ðể thu hút người lao động đến và gắn bó bền vững, công ty không ngừng đầu tư công nghệ tối ưu cho việc khai thác và đào lò. Việc cơ giới hóa trong công tác đào, chống lò và khai thác đã giải phóng được lao động cơ bắp, tăng năng suất đào lò gấp từ 1,3 đến 1,5 lần, bảo đảm an toàn cho người và thiết bị. Các bộ phận phục vụ duy trì tốt việc cấp nước uống thông qua hệ thống lọc tinh khiết đưa xuống tận các gương lò và lò chợ phục vụ người lao động. Không chỉ vậy, công ty luôn có chế độ, chính sách ưu đãi đặc biệt đối với thợ lò, từ xây dựng tiền lương đầu vào với thợ đào lò than là 13 triệu đồng/tháng, lò đá 14 triệu đồng/tháng. Công ty còn nhận vợ con thợ lò vào làm việc. Công tác đề bạt, đào tạo cán bộ trưởng thành từ công nhân trực tiếp cũng được ban lãnh đạo công ty làm rất tốt. Một trong số đó là  Trưởng ban An toàn lao động công ty Ðặng Văn Ðương. Anh Ðương từng có 13 năm trực tiếp là công nhân đào lò. Anh nói:  Hơn ai hết, tôi thấu hiểu được sự hy sinh, mất mát, vất vả cực nhọc của người "ăn dương gian, làm âm phủ". Không có nghề nào lại đổ nhiều mồ hôi, sức lực, thậm chí có thể đổi cả tính mạng như nghề này. Mỗi lần vào ca như đi đánh giặc. Giặc ở đây có thể ví như những tai họa, sự lơ là, mất cảnh giác về kỷ luật an toàn... Hiện nay, với cương vị công tác mới, anh Ðương càng có điều kiện tham mưu  với công đoàn, lãnh đạo công ty để đề ra những chính sách, chế độ, bảo đảm quyền và lợi ích xứng đáng nhất cho người lao động.

 Theo chân cán bộ công đoàn công ty đi thăm một số công trình phúc lợi, từ nhà giao ca, khu tắm giặt, đến hội trường 350 chỗ, sân bóng đá mi-ni, công viên và tượng đài thợ mỏ mới cảm nhận được hết sự quan tâm, đầu tư về vật chất và tinh thần đối với "tài sản" quý của mình. Trước đây, thợ lò mỗi khi vào ca phải xếp hàng chờ đợi lấy bảo hộ lao động, đèn lò. Bây giờ, công ty cải tạo lại  dây chuyền cấp bảo hộ lao động tại tủ của từng cá nhân. Mỗi thợ lò có một tủ sắt, trong đó để những bộ quần áo, ủng được giặt sạch sẽ,   cùng mũ bảo hộ, đèn pin. Tôi gặp công nhân Lại Thị Hiền, tổ phục vụ sản xuất khi chị đang quét dọn  than cám rơi ra từ các bộ quần áo bảo hộ lao động của thợ lò sau ca làm việc. Chị Hiền gắn bó với công ty 12 năm. Chị cho biết, tất cả các tổ phục vụ đều làm ba ca theo ca của thợ lò. Mùa đông cũng như hè,  chị em trong tổ đều phải làm việc trong cái ngột ngạt, hầm hập của thời tiết cộng với nhiệt độ tỏa ra từ ba máy giặt công nghiệp và ba lò sấy. Có ca lên tới 900 bộ quần áo bảo hộ lao động. Số lượng than cám được rũ ra từ những bộ quần áo ấy, không ai cân đong đo đếm, nhưng nó khiến các chị luôn chân luôn tay quét dọn. Chị Hiền  cho biết:  So với sự vất vả của anh em đi lò thì thấm vào đâu. Còn chị Nguyễn Thị Thúy làm ở phòng cấp phát cho biết, trước đây, quần áo của anh em đi làm về rách, chúng tôi còn tổ chức khâu vá, giờ thì không phải làm việc đó nữa rồi. Nói là cấp phát bảo hộ lao động định kỳ, nhưng nếu đồ dùng cá nhân  bị hỏng, rách, chúng tôi lập tức thay mới để bảo đảm an toàn trong sản xuất. Với thợ lò, việc tắm giặt sau ca sản xuất còn quan trọng hơn cả ăn, uống".

 10 giờ 30 phút, chúng tôi tham quan nhà ăn của công ty, nơi có thể phục vụ 1.800 người. Với quan điểm ăn càng nhiều càng khỏe, ăn theo nhu cầu để bảo đảm sức khỏe, Công ty  cổ phần than Mông Dương là đơn vị đầu tiên ở đất mỏ phục vụ bữa ăn ca công nghiệp bằng phương thức  tự chọn, từ 18 đến 22 món trong một bữa. Chị Hà, Phó Chủ tịch Công đoàn công ty cho biết, bình quân, mỗi tháng nhà bếp chi khoảng từ 2,5 đến ba tỷ đồng mua lương thực, thực phẩm phục vụ người lao động. Chứng kiến cảnh người lao động tấp nập, hồ hởi chọn những món ăn mình yêu thích, một đồng nghiệp đi cùng với tôi trầm trồ: "Chà, thịnh soạn hơn cả cỗ cưới". Dù có thời điểm gần 2.000 người tập trung ăn ca, nhưng nhà ăn chưa bao giờ có cảnh ùn tắc do chờ đợi, xếp hàng bởi cách phục vụ hợp lý, khoa học. Tôi làm quen với Tạ Ngọc Tuấn, quê ở Yên Bái, em vào công ty được chín tháng, hiện đang làm việc tại công trường khai thác 5. Tuấn cho biết, trước khi vào đây em đã từng làm rất nhiều công việc, thậm chí làm thuê, bốc vác. Tuấn nói, hai nghề  vất vả tương đương nhau nhưng làm việc trong môi trường độc hại cao, nguy hiểm hơn, bù lại thời gian làm việc ít hơn, lương cao gấp hai, ba lần, lại được chăm lo tốt đời sống  cả vật chất  lẫn tinh thần, được nộp bảo hiểm xã hội, về nghỉ chế độ có lương hưu nên em và rất nhiều công nhân trẻ quyết định gắn bó lâu dài ở đây".

 Bức thư gửi lại

 Trực tiếp làm hướng dẫn viên giới thiệu nhà bảo tàng, anh Trần Quang Cảnh giới thiệu sơ qua về lịch sử công ty, ngành than, với giọng  nói đầy tự hào của một người gắn bó hơn ba chục năm với nơi này: "Kỷ luật và đồng tâm, chúng ta nhất định thắng!". Ðó là khẩu hiệu cách đây 77 năm, ngày 12-11-1936, hơn ba mươi nghìn công nhân đất mỏ Quảng Ninh cùng đồng sức, đồng lòng hô vang, đòi quyền lợi cho chính mình. Từ đây, truyền thống công nhân vùng mỏ nói riêng và truyền thống ngành than nói chung bắt đầu được dệt nên bởi những thành tích vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Ngày nay, truyền thống đó được tiếp nối không ngừng, thể hiện qua những thành tích vượt bậc, vượt qua những thử thách khắc nghiệt trong nền kinh tế thị trường mà công nhân, cán bộ toàn ngành than đã và đang vượt qua". Quả thật, chỉ với mô hình, sa bàn, hiện vật cùng những bức ảnh, trang sử vẻ vang, hào hùng của lớp lớp cán bộ, công nhân lao động ngành than được tái hiện rất chân thực, xúc động. Trong tương lai gần, mục tiêu của Công ty cổ phần than Mông Dương sẽ sản xuất 1,6 đến 1,8 triệu tấn, đào hơn 20 km đường lò chủ yếu, tiến tới chinh phục độ sâu âm 550 m trong điều kiện địa chất phức tạp, diện khai thác rộng, áp lực mỏ lớn, khí và nước nhiều, cung độ vận chuyển ngày càng xa. Thắp hương tại nhà tưởng niệm, tôi dành thời gian đọc từng tên, tuổi, địa chỉ quê quán, ngày sinh, ngày mất của 43 thợ mỏ đã nằm xuống trong khi khai thác hầm lò kể từ ngày thành lập công ty năm 1982 đến nay. Giây phút này, tôi thấm thía sâu sắc, mỗi tấn than được khai thác lên thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả máu của những người thợ mỏ.

 14 giờ 15 phút, nhớ lời hẹn, tôi đợi trước cửa giếng. Cửa bên kia, 500 công nhân sẵn sàng xuống lò ca hai. Cửa bên này, lác đác từng nhóm thợ ca một đi ra. Một cảm giác thật khó diễn tả khi lần đầu nhìn thấy gương mặt các anh khi bước ra khỏi lò. Tám tiếng trước, ai cũng tinh tươm, sạch sẽ, vậy ra chỉ sau một ca làm việc, quần áo ai cũng ướt sũng mồ hôi. Thường thì sau khi ra lò, rất nhiều công nhân bị rơi vào trạng thái điếc tạm thời do thời gian dài bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn, độ rung của máy móc. Dù rất mệt nhọc, nhưng nhìn thấy khách lạ, ai cũng cố gắng nở nụ cười với tôi.

 Thật khó khăn  khi tìm kiếm  công nhân trẻ Nguyễn Thế Hoạt giữa hàng trăm con người, bởi ai cũng chung một gương mặt đen nhẻm. Bụi than và mồ hôi trộn vào nhau, tạo thành một lớp sáp đen nhánh trên gương mặt, khi gặp ánh sáng  phát ra những tia sáng lấp lánh. Khi ấy, tôi thật sự nhìn ra được vẻ đẹp đích thực người thợ lò. Chẳng thế, ở nhà ăn, một anh công nhân vui tính nói với tôi: "Thợ lò bọn tớ có nhiều điều tự hào, nhưng sướng nhất là được mặt nhọ, tay đen, vì chỉ có lúc như vậy thì mới có than để xuất, vợ con mới có cái để ăn, Nhà nước mới có nguồn thu". Lan man trong suy nghĩ, Hoạt bất ngờ xuất hiện. Tôi nhận thấy nụ cười của em tươi tắn hơn, thân thiện hơn so với hồi sáng. Tôi biết, cảm giác ấm lòng của em khi thấy tôi giữ đúng lời hứa. Hơn thế, ẩn sau trong nụ cười ấy, là sự thảnh thơi sau một ca làm việc an toàn của Hoạt và đồng đội. Chạy về kho đựng quần áo, tôi xé một trang sổ tay, viết vội một bức thư để vào ngăn tủ của một công nhân nào đó: "Chào người thợ mỏ anh hùng. Chúc anh và đồng đội ngày càng dồi dào sức khỏe. Mong các anh luôn đồng tâm và hiệp lực, không ngại hiểm nguy, sẵn sàng xuống lò, chinh phục những độ âm hàng trăm mét để tìm và khai thác ngày càng nhiều hơn nữa nguồn "vàng đen" cho Tổ quốc hôm nay và mãi mãi về sau".

  Chia tay đất mỏ, siết chặt những đôi bàn tay chai sần, chắc khỏe, với những vết sẹo đen hằn của những người thợ mỏ, hành trang tôi mang về là những đôi mắt và nụ cười lấp lánh sau lớp bụi than đen kịt, mang theo cả khao khát về một ngày gần nhất được: Vào lò.

 

 

 Bài dự thi xin gửi về địa chỉ: Ban Thư ký - Biên tập, Báo Nhân Dân, 71 phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội. Email: banthukyÚnhandan.org.vn.

 

ÐẶNG THANH HÀ