![]() |
Cập nhật 09:27 ngày 22-01-2009 |
Hơn 11 năm chuẩn bị và đàm phán, nước ta mới gia nhập được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hai năm gia nhập WTO quả thật là một thời gian rất ngắn, nếu không nói là chúng ta mới chỉ bước đầu vào "sân chơi" kinh tế toàn cầu này. Tuy vậy, chúng ta cũng cần có cách nhìn khách quan về những kết quả đã đạt được cũng như những khó khăn, thách thức đang đặt ra để chủ động đối phó và vững bước đi lên. Việc gia nhập WTO đã làm tăng uy tín và vị thế kinh tế của Việt Nam trên
trường quốc tế. Thế giới biết đến Việt Nam như là một nơi an toàn trong khu vực
với nền kinh tế mở và nỗ lực cải cách mạnh mẽ để hội nhập kinh tế quốc tế. Việc
Việt Nam được bầu là thành viên không chính thức của Hội đồng Bảo an LHQ là
thắng lợi kép trong lĩnh vực ngoại giao và kinh tế. Một hệ thống pháp luật mới ra đời với việc sửa đổi, hợp nhất các luật và xây
dựng mới 30 luật và pháp lệnh phù hợp các hiệp định và quy định của WTO, sửa đổi
hàng trăm luật khác phục vụ cải cách nền hành chính và đổi mới nền kinh tế. Như
vậy, chúng ta đã có một hệ thống chuẩn mực cao hơn, phù hợp với thế giới
hơn để nền kinh tế Việt Nam đi vào thế kỷ 21, thế kỷ của hợp tác kinh tế và hội
nhập. Môi trường kinh doanh của Việt Nam minh bạch hơn, ổn định về pháp luật
hơn, hấp dẫn hơn đã trở thành điểm đến của các nhà đầu tư lớn. Hội nghị
LHQ về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã xếp Việt Nam đứng thứ sáu về sự hấp
dẫn đầu tư. Nếu năm 2007, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã đạt hơn 20 tỷ USD
vốn đăng ký thì năm 2008 đã tăng lên gần gấp ba lần, đạt gần 60 tỷ USD vốn đăng
ký. Ðây là mức cao nhất từ trước tới nay. Nhưng quan trọng hơn cả là nhanh chóng
đưa cả nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chúng ta nhanh
chóng phát triển thị trường bất động sản, thị trường tài chính, thị trường hàng
hóa, thị trường lao động. Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng
nhanh và được xếp hạng thị phần cao trên thế giới như hạt tiêu và hạt điều đều
xếp thứ nhất, gạo và cà-phê xếp thứ hai, may mặc xuất khẩu xếp thứ mười, giày
dép xếp topten... Ðội ngũ doanh nghiệp (DN) và doanh nhân phát triển nhanh. Chúng ta đã có hơn
300 nghìn DN và dự kiến đến năm 2012 con số DN có thể lên tới 500 nghìn. Môi
trường cạnh tranh thật sự, thị trường mở, đòi hỏi các DN nỗ lực quan tâm tới
hiệu quả kinh tế trong sản xuất, kinh doanh, gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh
với thị trường trong nước, thị trường khu vực và quốc tế. Ðồng thời, chăm lo bảo
đảm an sinh và công bằng xã hội. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta cũng bộc lộ những yếu kém. Năm 2007, lạm phát ở mức hơn 12%, năm 2008 dự kiến lạm phát ở mức
22%. Ðiều đáng quan tâm là sau khi lạm phát cao, nền kinh tế trong ba tháng cuối
năm 2008 lại giảm phát. Nhập siêu tăng cao, nhất là từ các mặt hàng như vàng, thép, ô-tô, xe máy và
một số mặt hàng như thịt gia cầm. Dự kiến nhập siêu cả năm 2008 lên đến 17 tỷ
USD. Việc điều hành kinh tế vĩ mô khi độ mở thị trường lớn, chúng ta chưa có nhiều
kinh nghiệm. Chuyển từ quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp và xây dựng các
tiêu chí cho các DN hoạt động, kiểm tra việc thực thi luật pháp, nghĩa vụ đóng
thuế... chúng ta mới bắt đầu. Gia nhập WTO và hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới và khu vực trong lúc
nền kinh tế thế giới và khu vực phải đương đầu với rất nhiều cuộc khủng hoảng.
Cụ thể, cuộc khủng hoảng năng lượng, giá dầu thô có lúc lên tới 147 USD/thùng
rồi xuống 42 USD/thùng và có thể sẽ còn lên, xuống thất thường. Cuộc khủng hoảng
năng lượng làm cho giá vàng và tỷ giá ngoại tệ lên, xuống khó lường, khiến thị
trường tài chính bất ổn. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ khủng hoảng thị
trường bất động sản ở Mỹ sau lan ra toàn cầu đã khiến nhiều nền kinh tế phát
triển như Mỹ, EU, Nhật Bản... rơi vào suy thoái. Nhiều ngành công nghiệp như
ô-tô, điện tử rơi vào khủng hoảng và nạn thất nghiệp tăng rất nhanh. Cuộc khủng
hoảng lương thực với giá gạo lên tới mức 1.200 USD/tấn, mức tăng cao nhất từ
trước tới nay rồi lại trở về mức 400 - 500 USD/tấn. Cuộc khủng hoảng môi trường,
khí hậu trái đất nóng lên và thiên tai lũ, bão, khô hạn kéo dài so với những năm
trước. Trước bối cảnh toàn cầu như vậy, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động
không nhỏ. Ðảng và Nhà nước đã có những giải pháp kịp thời để ổn định và phát
triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Nhằm góp thêm tiếng nói, chúng tôi xin
nhấn mạnh những vấn đề sau: Ðó là, tổ chức nghiên cứu và theo dõi sát khủng hoảng tài chính thế giới và
suy thoái kinh tế, tình hình diễn biến phức tạp của các mặt hàng như năng lượng,
điện tử, nông sản, may mặc, giày dép, thủy hải sản là những mặt hàng tác động
mạnh đến sản xuất, đời sống của hàng triệu lao động nước ta. Cần thông tin và dự
báo sớm để các DN chủ động đối phó và tận dụng các thời cơ. Thí dụ, các DN muốn
nhập khẩu thiết bị, đây là thời cơ rất lớn khi nhiều công ty phá sản họ đành
phải bán thiết bị dưới giá thành. Thị trường nông sản và thủy sản tuy có giảm
nhưng vẫn ở mức giá cao so với nhiều năm trước đây... Ðó là, thống nhất về nhận thức, nước ta đã là một bộ phận của kinh tế thế
giới và khu vực, tất cả tác động thuận chiều cũng như trái chiều đều ảnh hưởng
đến nền kinh tế của Việt Nam, để từ đó, khi xây dựng các chính sách, chiến lược
phát triển kinh tế cho từng ngành hàng cần căn cứ vào nhu cầu của trong nước,
khu vực và thế giới. Thí dụ như sản lượng cà-phê hiện nay chiếm 16% nhu cầu của
thế giới, sản lượng hồ tiêu chiếm 30% nhu cầu của thế giới, vậy có nên tăng sản
lượng nữa không hay chỉ nên tập trung vào nâng cao chất lượng cà-phê hoặc phát
triển cây trồng khác vì nếu càng tăng sản lượng thì đồng nghĩa với giá sẽ càng
bị giảm? Ðó còn là, trước những năm 80 của thế kỷ 20, phần lớn các cuộc khủng hoảng
kinh tế là khủng hoảng sản xuất thừa. Ðể giữ giá, các nhà tư bản đã đổ hàng hóa
xuống biển, mặc dù có hàng triệu người chết đói. Từ năm 1985 trở lại đây khi
dịch vụ đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ở Mỹ, dịch vụ chiếm tới 80% GDP, ở
EU dịch vụ chiếm 69% GDP... thì các cuộc khủng hoảng suy thoái lại bắt đầu từ
tài chính và ngân hàng. Năm 1997, ASEAN rơi vào khủng hoảng tài chính và ngân
hàng. Sau đó, Thái-lan phải quản lý ngân hàng hằng ngày, còn Xin-ga-po đã quản
lý từ năm 1990. Câu hỏi đặt ra là tại sao đã quản lý ngân hàng mà kinh tế
Xin-ga-po lại rơi vào suy thoái sớm hơn? Vì Xin-ga-po sống nhờ dịch vụ tài
chính, ngân hàng, vận tải, chuyển khẩu... khi khủng hoảng thì tất cả những dịch
vụ này là nơi xì hơi đầu tiên. Năm 1997-1998, ASEAN bị khủng hoảng tiền tệ, tài chính, Việt Nam ít bị tác
động. Năm 1999, các chuyên gia EU đến có hỏi, tại sao Việt Nam ít bị tác động
như thế? Tôi đã trả lời: "Vì Việt Nam là nền kinh tế vật chất (phisical
economy), chưa có độ ảo của thị trường chứng khoán". Tuy vậy, năm đó, tốc độ
tăng trưởng của Việt Nam cũng giảm xuống còn 4,6%. Qua cuộc khủng hoảng tài chính, các chính phủ mới tỉnh ngộ vấn đề cổ phiếu
của các DN và các trái phiếu chính phủ. Lâu nay, nền kinh tế nào cũng quan tâm
tới phát hành tiền, trái phiếu của chính phủ cho các dự án phát triển, nhưng lại
ít để tâm tới cổ phiếu hoặc trái phiếu chuyển đổi của DN, đặc biệt là thị trường
thứ cấp. Ngay như ở nước ta, từ lúc các DN lên sàn đến nay, họ đã tăng vốn 5 - 8
lần. Nếu như số cổ phiếu phát hành này không được bảo đảm bởi dự án có hiệu quả,
thì sớm muộn nó cũng xì hơi hoặc khi bị bơm quá căng, nó sẽ nổ tung ra. Việc
quản lý tiền tệ, chúng ta đã quan tâm nhiều nhưng việc phát hành cổ phiếu, trái
phiếu chuyển đổi của DN, chúng ta chưa nhận thức đầy đủ mặt trái của nó sẽ tác
động đến ổn định kinh tế vĩ mô để có biện pháp quản lý phù hợp. Ðáng lưu ý, bất động sản là một trong những thị trường lớn nhất của mỗi nền
kinh tế. Bởi lẽ, con người thì cứ tiếp tục sinh, còn đất thì có hạn. Kinh nghiệm
ở Thụy Sĩ là, họ quản rất chặt lĩnh vực cấp phép xây dựng và phát triển khách
sạn, trong khi đồng vốn thì họ lại cho tự do. Cũng từ năm 1985 đến nay, nhiều
cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế đều bắt nguồn từ thị trường bất động sản.
Thí dụ như Xin-ga-po và Nhật Bản bị hút vào cuộc khủng hoảng bất động sản kéo
theo sự đổ vỡ của ngân hàng. Xin-ga-po có độ mở kinh tế lớn, cho nên thoát ra
sớm, còn Nhật Bản phải mãi tới năm 2006 mới thoát ra được. Tất nhiên, mức độ
khủng hoảng còn bị tác động bởi nhiều yếu tố khác. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái của thế giới hiện nay lại bắt đầu từ
cuộc khủng hoảng của thị trường bất động sản Mỹ. Nước ta bị lạm phát một phần
quan trọng do phát triển quá nóng của thị trường bất động sản. Ðây cũng là lần
thứ ba kể từ khi đổi mới và mở cửa, bất động sản gây tác động ngược chiều cho
nền kinh tế. Việc quản lý bất động sản, quy hoạch phát triển bền vững, tạo công
bằng cho người dân, chống đầu cơ sẽ góp phần quan trọng ổn định kinh tế, xã
hội. WTO là một "sân chơi" lớn. Các nền kinh tế muốn ổn định, phát triển thông
thường chính sách của họ phải đi trước các nền kinh tế khác từ một đến hai bước,
hay nói một cách khác là phải chủ động đề ra các chính sách cho phù hợp môi
trường mới, chứ không bị động ứng phó. Những nền kinh tế phát triển muốn nắm vai
trò chi phối, những thành viên gia nhập WTO trước thường ép thành viên gia nhập
sau mở cửa thị trường nhiều hơn. Cùng một hiệp định các thành viên vẫn vận dụng
và áp dụng khác nhau như Hiệp định Chống bán phá giá, Hiệp định Chống trợ cấp,
Hiệp định Nông nghiệp... cho nên trong vòng đàm phán Ðô-ha mới hình thành nhóm
G20 đứng đầu là Bra-xin và Ấn Ðộ đấu tranh yêu cầu các thành viên phát triển mở
cửa thị trường nông nghiệp và bỏ trợ cấp nông nghiệp để tránh gây bóp méo thị
trường. Việc nghiên cứu kỹ các hiệp định, quy định của WTO để thực thi và xây
dựng các chính sách phù hợp quy định là nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của
nước ta là điều cần thiết. Chúng ta cũng cần phân định để hiểu rõ, gia nhập WTO
là tham gia sân chơi mở cửa thị trường (open market) chứ không phải tự do thương
mại (free market). LƯƠNG VĂN TỰ |
|