Để người dân sống được với rừng

BÀI & ẢNH: PHẠM ĐẮC, NGUYỄN HOÀNG

Thứ hai, 09/09/2019 - 08:57 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Rừng trồng thay thế tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

Là tỉnh có diện tích rừng tự nhiên đứng thứ hai cả nước, thời gian qua, nhằm phục hồi diện tích rừng do chuyển đổi mục đích sử dụng, Quảng Nam đã đẩy mạnh trồng bù rừng thay thế (TBRTT) và thay đổi cơ bản phương pháp bảo vệ, phát triển rừng (BV&PTR). UBND tỉnh đã phê duyệt phương án nộp tổng số tiền hơn 105 tỷ đồng tiền về Quỹ BV&PTR với diện tích 1.150,32 ha nhằm giúp dân ổn định được cuộc sống khi gắn bó với rừng.

Xây dựng phương án quản lý quỹ hiệu quả

Quảng Nam có đến 1.878,95 ha rừng đã được chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó 1.441,15 ha được chuyển để xây dựng thủy điện, 109,39 ha làm du lịch và 328,41 ha để chuyển sang xây dựng các công trình phúc lợi, còn lại là chuyển sang khai thác khoáng sản. Do chuyển đổi một diện tích rừng quá lớn sang mục đích khác nên việc tổ chức thực hiện TBRTT ở Quảng Nam bước đầu đã gặp không ít khó khăn.

Ông Huỳnh Đức, Giám đốc Quỹ BV&PTR tỉnh Quảng Nam cho biết, Quảng Nam có hơn 30 đơn vị nộp tiền về quỹ, với số tiền khoảng hơn 100 tỷ đồng. Quá trình thực hiện theo Thông tư số 23/2016/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) hướng dẫn về quản lý công trình lâm sinh, có những quy định về quản lý nguồn quỹ chưa cụ thể, rõ ràng khiến địa phương lúng túng khi thực hiện. Do đó, Quỹ BV&PTR đã phối hợp Chi cục Kiểm lâm tham mưu gửi Sở NN&PTNT ban hành Văn bản số 953/SNN&PTNT-KHTC về việc hướng dẫn quản lý, thanh toán quyết toán vốn đầu tư TBRTT diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng. Văn bản đã nêu rõ từng đầu việc cụ thể của các bên liên quan cũng như trách nhiệm thực hiện.

Trao đổi với phóng viên Thời Nay, ông Lê Tự Tuấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho biết, ở Quảng Nam chưa có dự án (DA) TBRTT nào kết thúc, vì thực tế ở Quảng Nam mỗi DA là “một năm trồng, bốn năm chăm sóc, 5 năm quản lý bảo vệ”, có nghĩa là 10 năm kết thúc DA rồi mới bàn giao. Hiện nay, phần lớn đang trong giai đoạn chăm sóc, bảo vệ, khi mới triển khai cũng gặp không ít khó khăn nhưng đã phối hợp BV&PTR của tỉnh cùng tìm cách tháo gỡ khó khăn khi gặp phải.

Đưa công nghệ vào bảo vệ rừng

Từ những vụ phá rừng tự nhiên đã xảy ra trên địa bàn tỉnh, những bất cập trong thi hành các chính sách để BV&PTR tại Quảng Nam những năm qua, UBND tỉnh đã nghiên cứu đề xuất HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết (NQ) số 46/2018/NQ-HĐND quy định mức chi hỗ trợ công tác quản lý bảo vệ rừng tự nhiên trên địa bàn giai đoạn năm 2019 - 2020. Tiếp đó ngày 21-1-2019 UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định (QĐ) số 266/QĐ-UBND về việc triển khai NQ 46/2018/NQ-HĐND. Đặc biệt, ngày 24-4-2019, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Kế hoạch 2219/KH-UBND (KH 2219) về việc triển khai NQ 46/2018/NQ-HĐND và QĐ số 266/QĐ-UBND.

Nội dung KH 2219 đã nêu rõ lộ trình thực hiện cơ chế chính sách, cơ chế tài chính, nhiệm vụ của từng huyện, thị xã, thành phố… Theo ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, tỉnh chỉ để lại các hạt kiểm lâm liên huyện ở khu vực đồng bằng với ba huyện do một hạt kiểm lâm bảo vệ, nhưng khu vực miền núi mỗi huyện sẽ do một hạt kiểm lâm riêng độc lập để gắn với chính quyền cơ sở. Đối với Ban quản lý rừng (BQLR), phải giao về trực thuộc cấp huyện quản lý, để huyện kịp thời chỉ đạo điều hành hoạt động bảo vệ rừng của chính địa phương, gắn với nhân dân, gắn với chính quyền. Các BQLR phòng hộ được chuyển về trực thuộc huyện. Còn BQLR đặc dụng thì do Sở NN&PTNT trực tiếp quản lý. Phải giải tán các trạm kiểm lâm ko cần thiết để tăng cường cho kiểm lâm xã. Mỗi xã sẽ có một kiểm lâm địa bàn dưới sự điều hành của chủ tịch xã. Xã nào có nhiều rừng có thể có hai kiểm lâm địa bàn.

Đặc biệt là việc thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng (tổ tuần tra bảo vệ rừng chuyên trách - BVRCT) sẽ có đầy đủ trang phục, phương tiện, lực lượng này được lấy từ con em của các thôn, bản đi nghĩa vụ quân sự về, họ là thanh niên có trình độ được ưu tiên lấy tại địa phương để thành lập Đội BVRCT, hưởng lương khoảng 3 triệu đồng/tháng, được đóng bảo hiểm đầy đủ. Nhiệm vụ là sẽ đi kiểm tra chéo các địa bàn thôn khác. Còn đối với mức chi chỗ BV&PTR là 400 nghìn đồng/ha chứ không áp dụng từng chính sách cụ thể nào nữa.

Được biết, hiện nay KH 2219 đang triển khai làm thí điểm trước một số địa phương. Song song đó, tỉnh Quảng Nam sẽ triển khai công tác hiện đại hóa quản lý bảo vệ rừng, cùng với các phần mềm Nhà nước bàn giao cho kiểm lâm để theo dõi giám sát cháy rừng, tỉnh sẽ đầu tư hai phương tiện bay UAV thực hiện công tác bay tuần tra đột xuất theo từng khu vực, đem lại hình ảnh rõ nét hơn từ ảnh vệ tinh. Cùng với đó, là trang bị hệ thống chip điện tử phát hiện tiếng động cơ của máy cưa tại các vị trí có nguy cơ bị mất rừng cao, khu vực rừng quý hiếm. Hệ thống này có để phát hiện tiếng động cơ trong vòng bán kính 500 m và báo về máy chủ chỉ huy để công tác BV&PTR được phát hiện nhanh chóng và kịp thời.

Phủ xanh miền cát trắng

UBND tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt phương án nộp tiền về Quỹ BV&PTR với diện tích 1.150,32 ha với tổng số tiền hơn 105 tỷ đồng. Theo đó, đã phê duyệt phương án TBRTT với tổng diện tích là 2.039,24 ha (cao hơn số diện tích đã chuyển đổi sang mục đích khác).

Dẫn phóng viên đi thực tế những cánh rừng keo lưỡi liềm phủ xanh vùng cát trắng, ông Nguyễn Đình Khang, Phòng Sử dụng và Phát triển rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho biết: “Quảng Nam đã và đang tiến hành trồng, chăm sóc rừng trồng thay thể ở vùng đồi là các huyện miền núi như: Phước Sơn, Nam Trà My, Nam Giang và vùng cát là Núi Thành, Thăng Bình, Tam Kỳ… Nhờ có chính sách TBRTT mà nhiều vùng cát trắng đã được phủ xanh”.

Ngược lên các huyện miền núi, phóng viên đến với vùng TBRTT tại xã Cà Dy (huyện Nam Giang). Đứng dưới tán rừng lim, lát hoa xanh ngắt, ông Dương Văn Nam, cán bộ trồng rừng thuộc một DA án trồng rừng thay thế ở huyện Nam Giang cho biết: “Tham gia từ khi bắt đầu phát thực bì để trồng, mỗi tháng được trả 7 - 8 triệu đồng, trên vùng đồi chọn những cây bản địa để trồng, phát triển tốt nhất là lim xanh. Làm việc này cần cái tâm của người trồng rừng, nhiều khi đi vào rừng trời nắng nóng cây khô héo mà cầm chai nước trên tay mình thà tưới cho cây trước, còn mình nhịn khát để vào khe suối lấy nước uống”.

Nhờ có các nguồn hỗ trợ từ chính sách nên những năm gần đây, tỉnh Quảng Nam đã triển khai nhiều kế hoạch, mục tiêu để phát triển kinh tế dưới tán rừng như trồng sâm Ngọc Linh ở Nam Trà My, cây ba kích ở Nam Giang, bảo tồn rừng di sản pơ mu và hoa đỗ quyên ở Tây Giang, đồng thời xây dựng các làng văn hóa du lịch dưới tán rừng, trồng rừng gỗ lớn, cấp chứng chỉ rừng FSC… Bước đầu đã đem lại hiệu quả đáng ghi nhận, một số bộ phận người dân đã sống được nhờ rừng.