Đường lối của Đảng qua 12 kỳ Đại hội

Xuất bản: Ngày 22 Tháng 1 Năm 2020

Hội nghị thành lập Đảng


Cho đến đầu thế kỷ 20, các phong trào đấu tranh chống xâm lược do các sĩ phu lãnh đạo đã thất bại. Thực dân Pháp đã đặt xong ách cai trị ở Việt Nam và bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa. Những trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản cũng đã tỏ ra bế tắc.

Tháng 3-1929, những người tích cực nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Bắc Kỳ đã thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên tại nhà số 5D phố Hàm Long (Hà Nội). Từ hạt nhân này, những cán bộ cấp tiến của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Bắc Kỳ đã tích cực xúc tiến thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ngày 17-6-1929. Tổng bộ thanh niên và Kỳ bộ Nam Kỳ cũng cải tổ thành An Nam Cộng sản Đảng vào tháng 8-1929. Tháng 9-1929, những đại biểu Tân Việt đã ra Tuyên đạt chính thức lập ra Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Cả ba tổ chức này đều tự nhận mình là cộng sản. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, các tổ chức này chưa thống nhất trong cách thức hoạt động, gây ảnh hưởng tiêu cực cho phong trào cách mạng chung. Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời triệu tập và chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản để lập ra một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.

Hội nghị họp tại Hương Cảng đầu năm 1930 gồm 5 đại biểu: Các đồng chí Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh đại diện cho Đông Dương Cộng sản Đảng; Các đồng chí Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm đại diện cho An Nam Cộng sản Đảng; Nguyễn Ái Quốc - đại diện của Quốc tế Cộng sản. Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không kịp cử đại biểu đi dự.

Theo báo cáo (ngày 18-2-1930) của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản: Hội nghị bắt đầu họp ngày 6-1-1930, ngày 8-2-1930, các đại biểu trở về nước. Các đại biểu đã nhất trí hợp nhất hai tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Ngày 24-2-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đề nghị Ban chấp hành lâm thời kết hợp tổ chức này vào Đảng. Việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã được hoàn thành trên thực tế.

 Hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Tranh của họa sĩ Phan Kế An

Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam trong mấy chục năm. Từ đây cách mạng Việt Nam chuyển sang một trang mới.

Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng ta do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã nêu được những vấn đề cơ bản về đường lối của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xác định chiến lược cách mạng của Đảng là tiến hành cuộc “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

Cương lĩnh đã xác định rõ sự lựa chọn con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam là thực hiện chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, dân chủ, tiến lên theo định hướng xã hội cộng sản. Luận điểm cách mạng này đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Sự vận dụng sáng tạo đường lối của Quốc tế Cộng sản khi đó vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rõ ở tinh thần: Tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, đoàn kết tập hợp mọi lực lượng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để chống đế quốc và tay sai. Trong cuộc đấu tranh này Đảng cần tập hợp được khối lực lượng đông đảo nhất, huy động được sức mạnh đoàn kết to lớn nhất mới bảo đảm giành được thắng lợi.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng của khối liên minh công nông và trí thức, là lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam, đại đoàn kết là một chiến lược cách mạng.

Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời với Cương lĩnh cách mạng đúng đắn, sáng tạo đã trở thành tổ chức đại biểu cho quyền lợi của giai cấp và của cả dân tộc. Đảng đã nhanh chóng nắm quyền lãnh đạo cách mạng và giữ vững quyền này trong những chặng đường đấu tranh của dân tộc.




Đại hội lần thứ nhất

Khôi phục tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương

Đại hội lần thứ I của Đảng được tổ chức từ ngày 27 đến 31-3-1935 tại Ma Cao (Trung Quốc), với sự tham dự của 13 đồng chí đại biểu thay mặt sáu nghìn đảng viên đang hoạt động ở trong và ngoài nước.

Đại hội Đảng lần thứ I đề ra ba nhiệm vụ trước mắt là: Củng cố và phát triển Đảng; tranh thủ quần chúng rộng rãi; chống chiến tranh đế quốc.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 đồng chí ủy viên. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Tháng 7-1936, đồng chí Hà Huy Tập được cử làm Tổng Bí thư của Đảng. Và sau đó, tháng 3-1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được cử làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội lần thứ I của Đảng đánh dấu sự khôi phục tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước, thống nhất các phong trào đấu tranh cách mạng của các giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội lần thứ hai

Công khai hoạt động, lãnh đạo toàn dân kháng chiến

Đại hội lần thứ II của Đảng được tổ chức từ ngày 11 đến 19-2-1951 tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, với 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 760 nghìn đảng viên đang sinh hoạt trong Đảng bộ toàn Đông Dương.

Đại hội lần thứ II diễn ra sau chiến thắng của Chiến dịch Biên giới (thu đông 1950), là sự kiện lịch sử quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Đại hội xét thấy cần phải có một Đảng hoạt động công khai, tổ chức phải phù hợp với tình hình thế giới và trong nước để lãnh đạo toàn dân kháng chiến đến thắng lợi. Đảng đó lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.

 Ảnh tư liệu: Đại hội lần thứ II của Đảng.

Đại hội cũng thảo luận và nhất trí thông qua Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam. Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và xây dựng Đảng theo nguyên tắc một Đảng vô sản kiểu mới, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt căn bản của Đảng; phê bình, tự phê bình là quy luật phát triển của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu hoạt động của Đảng.

Đại hội đã tổng kết quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp và hoàn thiện đường lối cách mạng dân chủ nhân dân. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Đại hội bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng, và thực sự là những đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận cách mạng nước ta.

Đại hội lần thứ ba

Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh hoà bình, thống nhất đất nước

Đại hội lần thứ III của Đảng được tổ chức từ ngày 5 đến 10-9-1960 tại Thủ đô Hà Nội, với 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết đại diện hơn 500.000 đảng viên trong cả nước.

Tại Đại hội Đảng lần thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đại hội Đảng lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh hoà bình, thống nhất nước nhà”.

Đại hội đã xác định nhiệm vụ chung của cả nước, nhiệm vụ của hai miền và mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam. Đại hội cũng đã thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.

 Ảnh tư liệu: Đại hội lần thứ III của Đảng.

Đại hội lần thứ tư

Đại hội thống nhất Tổ quốc

Đại hội lần thứ IV của Đảng được tổ chức từ ngày 14 đến 20-12-1976 tại Hà Nội với sự tham dự của 1.008 đảng viên thay mặt hơn 1,55 triệu đảng viên trong cả nước. Dự Đại hội có 29 đoàn đại biểu quốc tế.

Đại hội diễn ra trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi hoàn toàn, hai miền nam - bắc thống nhất sau hơn 20 năm bị chia cắt.

Đại hội đã tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi của nhân dân ta, nêu những bài học kinh nghiệm lớn với nhiều nội dung phong phú và sâu sắc.

Đại hội lần thứ IV của Đảng là Đại hội thống nhất Tổ quốc, khẳng định con đường cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội IV đã quyết định lấy lại tên ban đầu của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

 Ảnh tư liệu: Đại hội lần thứ IV của Đảng.

Đại hội lần thứ năm

Khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa

Đại hội lần thứ V của Đảng được tổ chức từ ngày 27-2 đến 31-3-1982 tại Hà Nội với sự tham dự của 1.033 đại biểu thay mặt hơn 1,72 triệu đảng viên. Dự Đại hội có 47 đoàn đại biểu quốc tế.

Đại hội V đã thẳng thắn nêu lên những yếu kém trong lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội từ năm 1981 đến năm 1985; khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đại hội lần thứ IV của Đảng đã vạch ra.

 Ảnh tư liệu: Đại hội lần thứ V của Đảng.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 116 ủy viên chính thức và 36 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng.

Ngày 10-7-1986 Tổng Bí thư Lê Duẩn từ trần. Ban Chấp hành Trung ương họp phiên đặc biệt vào ngày 14-7-1986, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.

 Ảnh tư liệu (từ trái qua): Các kỳ Đại hội Đảng lần thứ II, III, IV, V

Đại hội lần thứ sáu

Đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực

Đại hội lần thứ VI của Đảng được tổ chức từ ngày 15 đến 18-12-1986 tại Hà Nội với sự tham dự của 1.129 đại biểu thay mặt hơn 1,9 triệu đảng viên. Dự Đại hội có 32 đoàn đại biểu quốc tế.

Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội lần thứ VI của Đảng khẳng định những thành tựu đã đạt được, đồng thời chỉ rõ tình hình kinh tế - xã hội nước ta đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng; chưa thực hiện được mục tiêu do Đại hội lần thứ V đề ra.

Đại hội đã đánh giá tình hình của đất nước, nghiêm khắc tự phê bình tư tưởng giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Từ thực tiễn cách mạng, Đại hội đã nêu lên nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng.

 Ảnh tư liệu: Đại hội lần thứ VI của Đảng

Đại hội xác định: Đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực, trọng tâm trước mắt là đổi mới chính sách kinh tế, giữ vững ổn định chính trị là tiền đề để bảo đảm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Các đồng chí: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

 Ảnh tư liệu: Đồng chí Nguyễn Văn Linh

Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, với phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật”, mạnh dạn và nhất quán đổi mới trên lĩnh vực kinh tế, từng bước đổi mới hệ thống chính trị, đưa đất nước thoát khỏi khó khăn, khủng hoảng để phát triển về mọi mặt.

Đổi mới ở Việt Nam xuất phát từ những yếu tố bên trong. Qua thực tiễn chứng minh, đổi mới là cần thiết và có thể tiến hành đổi mới toàn diện, từ đó đã tạo nên bước chuyển biến quyết định trong tư duy lãnh đạo và quản lý, với dấu mốc chính thức kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12-1986).

Giai đoạn lịch sử từ Đại hội IV (1976) đến hết nhiệm kỳ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) ghi nhận việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được sai lầm trong quản lý và đã đưa ra giải pháp thuận theo quy luật để đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, từng bước ổn định nền kinh tế và có đường lối phát triển kinh tế đúng đắn, đạt nhiều thành tựu trong hoàn cảnh khó khăn.

Thành công của sự nghiệp đổi mới cũng được đánh giá là “cao nhất có thể đạt được, xét theo những khả năng hiện thực trong điều kiện lịch sử”. Thành công này thuận với ý nguyện của nhân dân và hợp với xu hướng phát triển của thời đại.


"Đổi mới chứ không đổi màu"

- Nhà báo lão thành Hà Đăng

Nói về Đổi mới, đồng chí Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương), nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân cho biết: "Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu (khóa VI), Đảng ta đã đề ra sáu nguyên tắc của đổi mới, trong đó vấn đề giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, "đổi mới chứ không đổi màu" là nguyên tắc cơ bản".

 Nhà báo lão thành Hà Đăng nói về Đổi mới

Nhà báo lão thành Hà Đăng khẳng định, sau Đại hội lần thứ VI, Đảng ta nhất định tiến hành đổi mới, giữ vững mục tiêu tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tin tưởng ở chủ nghĩa xã hội, tin tưởng ở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.



Đại hội lần thứ bảy

Kiên trì và tích cực đẩy mạnh công cuộc đổi mới

Đại hội lần thứ VII của Đảng được tổ chức từ ngày 24 đến 27-6-1991 tại Hà Nội với sự tham dự của 1.176 đại biểu thay mặt hơn 2,155 triệu đảng viên. Dự Đại hội có 30 đoàn đại biểu quốc tế.

Đại hội đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và quyết nghị thông qua: Cương lĩnh “Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”; Chiến lược “Ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000”, Điều lệ của Đảng (sửa đổi)…

Đại hội khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Đại hội nhận định: Công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, do đó phải phấn đấu quyết liệt tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới.

 Ảnh tư liệu: Đại hội Đảng lần thứ VII.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) gồm 146 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Các đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công được giao trách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội lần thứ tám

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng

Đại hội lần thứ VIII của Đảng được tổ chức từ ngày 28-6 đến 1-7-1996 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.198 đảng viên đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong cả nước.

Đại hội tổng kết 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII của Đảng; đề ra mục tiêu, phương hướng, giải pháp thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ.

Đại hội đánh giá tổng quát: Công cuộc đổi mới trong 10 năm (1986-1996) đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra đã được hoàn thành cơ bản. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất của đông đảo nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh được củng cố. Đồng thời, thành tựu 10 năm đổi mới đã tạo được nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 Ảnh tư liệu: Đại hội Đảng lần thứ VIII.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII gồm 170 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng. Các đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tại Hội nghị lần thứ tư (tháng 12-1997), Ban Chấp hành Trung ương chấp thuận đề nghị của đồng chí Đỗ Mười thôi giữ chức vụ Tổng Bí thư, bầu đồng chí Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương suy tôn các đồng chí: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội lần thứ chín

Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết, Đổi mới

Đại hội lần thứ IX của Đảng được tổ chức từ ngày 19 đến 22-4-2001 tại Hà Nội, sự tham gia của 1.168 đại biểu là những đảng viên ưu tú được bầu từ các đại hội đảng bộ trực thuộc, đại diện cho gần 2,5 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Đại hội IX của Đảng có ý nghĩa trọng đại mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đại hội có nhiệm vụ lịch sử nhìn lại chặng đường 71 năm cách mạng Việt Nam; tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII; 15 năm đổi mới đất nước, 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội; rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc, từ đó phát triển và hoàn thiện đường lối, định ra chiến lược phát triển đất nước trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 21.

Đại hội IX khẳng định những kinh nghiệm, bài học đổi mới mà các Đại hội VI, VII, VIII của Đảng đã đúc rút vẫn có giá trị lớn, nhất là các bài học chủ yếu sau:

Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo.

Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Bốn là, đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới.

 Ảnh tư liệu: Đại hội Đảng lần thứ IX.

Về đường lối phát triển kinh tế-xã hội, Đại hội nêu rõ: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX gồm 150 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội lần thứ mười

Đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững

Đại hội lần thứ X của Đảng được tổ chức từ ngày 18 đến 25-4-2006 tại Hà Nội, với sự tham dự của 1.176 đại biểu đại diện cho 3,1 triệu đảng viên trong cả nước.

Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững. Đại hội diễn ra trong thời điểm lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta đã trải qua 20 năm. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vừa kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, cũng là 5 năm đầu tiên của thế kỷ XXI.

Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá khách quan, toàn diện thành tựu và những yếu kém, khuyết điểm, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm qua việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2001-2005), chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010), và nhìn lại 20 năm đổi mới; từ đó định ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm tiếp theo (2006-2010) và phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng.

 Ảnh tư liệu: Đại hội Đảng lần thứ X.

Đại hội khẳng định: 20 năm qua, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội lần thứ mười một

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc

Đại hội lần thứ XI của Đảng được tổ chức ngày 12-1-2011 đến 19-1-2011 tại Hà Nội.

Tổng số đại biểu tham dự Đại hội XI là 1.377 đại biểu (trong đó có 11 đại biểu ở Đảng bộ ngoài nước), thay mặt cho hơn 3,6 triệu đảng viên.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có nhiệm vụ nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đề cao tinh thần tự phê bình nghiêm túc, để kiểm điểm, đánh giá khách quan, toàn diện những thành tựu và yếu kém, khuyết điểm, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm qua việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2006-2010), tổng kết Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010) và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, Đại hội quyết định việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991; xác định Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2011-2020); đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm (2011-2015).


Đại hội đã chỉ ra những bài học lớn của cách mạng Việt Nam: Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế - Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công; Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đại hội cũng chỉ ra những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam đang xây dựng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Do nhân dân làm chủ; Có nền kinh tế phát triển cao có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ra mắt.

Đại hội cũng đưa ra các phương hướng cơ bản: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hóa bình, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI gồm 175 đồng chí ủy viên chính thức và 25 đồng chí ủy viên dự khuyết.

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được Đại hội bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

 Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư tại Đại hội XI.

Sau 9 ngày làm việc nghiêm túc, khẩn trương, dân chủ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra. Đại hội đã thảo luận sôi nổi, dân chủ và nhất trí thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước ta: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, phương hướng, nhiệm vụ năm 2011–2015; Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi).




Đại hội lần thứ XII của Đảng

Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới

 Ảnh tư liệu Báo Nhân Dân

Đại hội lần thứ XII được tổ chức từ ngày 20 đến 28-1-2016 tại Hà Nội.

Tham dự Đại hội có 1.510 đại biểu (13 đại biểu thuộc Đảng bộ ngoài nước) đại diện cho hơn 4,5 triệu đảng viên. Đây là Đại hội có số lượng đại biểu đông nhất trong 12 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.

Đại hội khẳng định những thành quả quan trọng, thảo luận, tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình thực hiện 5 năm Nghị quyết Đại hội XI (2011–2015) và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016-2020 với những mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu.

Mục tiêu tổng quát:

- Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa.

- Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

 Ảnh tư liệu Báo Nhân Dân

- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Đại hội cũng xác định các nhiệm vụ trọng tâm:

- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

- Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

- Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

 Đại biểu biểu quyết tại Đại hội XII

- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

- Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của Nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.

 Ảnh tư liệu Báo Nhân Dân

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã thảo luận và thông qua:

- Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trình Đại hội XII.

- Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng khóa XI.

- Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII gồm 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết.

 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ra mắt.

 Đồng chí Nguyễn Phú Trọng

Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã họp và tín nhiệm bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.


Trong diễn văn bế mạc Đại hội, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh:

“Thành công tốt đẹp của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua khó khăn, thách thức, tranh thủ cơ hội mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Ngay sau Đại hội, tất cả các cấp uỷ, tổ chức đảng cần làm tốt việc phổ biến, tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về kết quả Đại hội; nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Nghị quyết và các văn kiện Đại hội; khẩn trương xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hành động, khơi dậy phong trào thi đua yêu nước sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống".



Lời kết

“Với niềm phấn khởi, tự hào, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước


Trải qua 90 năm - 12 kỳ Đại hội, đã ghi dấu một chặng đường Đảng ta hòa mình cùng đất nước, dân tộc làm nên những kỳ tích lịch sử. Đó chính là giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân tiến tới giành độc lập và thống nhất đất nước ở thế kỷ 20. Bước sang thế kỷ 21, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện trên tất cả các mặt, ngày càng khẳng định uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.


Vững tin bước vào năm mới Canh Tý 2020, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm nỗ lực phấn đấu thi đua yêu nước, đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, khơi dậy sức mạnh dân tộc, ý chí tự cường và khát vọng vươn lên, khép lại một năm đạt nhiều thành tựu, tự tin bước vào năm mới 2020 với dấu mốc quan trọng kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2020), từ đó đưa đất nước vững bước tiến vào giai đoạn phát triển mới.




Nhóm tác giả


Chỉ đạo nội dung: Nguyễn Ngọc Thanh

Thực hiện: Ngô Vương Anh, Nguyễn Chí Trung, Trịnh Quốc Dũng

Thiết kế: Trịnh Quốc Dũng

Kỹ thuật: Phòng Kỹ thuật, Ban Nhân Dân điện tử

Ảnh: Trần Hải, Đăng Khoa và ảnh tư liệu


Share this story

  Facebook       Twitter




Your browser does not support CSS animations.