Làng chài trên lòng hồ thủy điện

Thứ Bảy, 13/12/2014, 15:31:11
 Font Size:     |        Print
 

Người dân làng chài đánh bắt cá trên lòng hồ Thủy điện Đồng Nai 3.

Nằm lọt thỏm giữa lòng Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Tà Ðùng, bốn bề bao bọc bởi những ngọn núi cao chót vót, làng chài trên lòng hồ Thủy điện Ðồng Nai 3 càng nhỏ bé, chông chênh khi những cơn mưa rừng ập về, mặt nước hồ thủy điện dậy sóng.

Khi Thủy điện Ðồng Nai 3 tích nước phát điện, nhiều người dân từ khắp nơi về đây mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá, nuôi cá, từ đó hình thành nên làng chài này.

Vất vả mưu sinh

Làng chài trên lòng hồ thủy điện Ðồng Nai 3, thuộc xã vùng sâu Ðác Som, huyện Ðác Glong, tỉnh Ðác Nông. Cả làng có khoảng 50 hộ, chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trôi dạt về đây kể từ khi Thủy điện Ðồng Nai 3 tích nước để phát điện năm 2010. Sau nhiều tháng mùa mưa ở Tây Nguyên, mực nước lòng hồ Thủy điện Ðồng Nai 3 dâng cao như biển hồ mênh mông giữa núi rừng. Phải mất hơn nửa giờ đồng hồ đi xuồng, chúng tôi mới đến được làng chài. Mỗi gia đình sinh sống trên một chiếc bè được làm bằng gỗ ván và cây rừng ghép lại, đặt trên những chiếc phao bằng thùng phuy hay những can nhựa lớn đỡ bè nổi trên mặt nước.

Ghé thăm chiếc bè của gia đình ông Nguyễn Văn Diên, 48 tuổi, ở ngay đầu làng chài. Giữa trưa, cả làng đang chợp mắt sau một đêm thức trắng đánh bắt cá. Ông Diên vẫn thức tranh thủ vá lại tấm lưới cũ để kịp cho chuyến đánh bắt cá tối nay. Quê ông Diên ở xã Vĩnh Thạnh, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, do cuộc sống khó khăn nên không được học hành, ở nhà làm ruộng, đánh bắt cá kiếm sống qua ngày. Khi trưởng thành, ông đi làm thuê ở tỉnh Tiền Giang rồi quen và lập gia đình với một người con gái ở đây. Sau đó, hai vợ chồng làm nghề đánh bắt cá, làm thuê... ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Ðồng Nai, Lâm Ðồng. Từ giữa năm 2010 cả nhà đến lòng hồ Thủy điện Ðồng Nai 3 dựng bè mưu sinh cho đến nay. "Thời gian đầu, ít người đánh bắt, cá còn nhiều cho nên đỡ vất vả. Còn bây giờ, nhiều người đánh bắt quá, mỗi ngày chỉ kiếm được từ 150.000 đến 200.000 đồng, không đủ trang trải sinh hoạt. Dù vậy, vợ chồng tôi vẫn phải gắn bó với nghề này để sống qua ngày chứ không biết làm gì hơn", ông Diên bộc bạch.

Ngồi trên chiếc bè thấp lè tè, dưới mái tôn nóng hừng hực, thỉnh thoảng vài làn gió thổi vào mang theo mùi cá chết, chất thải của gia súc... Anh Nguyễn Văn Hậu, làm nghề nuôi cá lồng giữa lòng hồ Thủy điện Ðồng Nai 3 chỉ tay về phía mấy rổ cá đang để trên bè của nhà mình cho biết: "Ðây là loại cá nhỏ tôi đánh lưới được, để dành làm thức ăn cho cá nuôi nên bốc mùi vậy đó. Trước đây, loài cá nhỏ này dưới hồ nhiều lắm, mỗi ngày đánh lưới được cả tạ bây giờ thức cả đêm nhưng cũng chẳng được là bao". Theo lời anh Hậu thì thời gian gần đây, do nguồn cá tự nhiên dùng làm thức ăn cho cá nuôi ngày càng cạn kiệt, nhiều chủ bè phải vay mượn tiền để mua thức ăn cho cá, nhưng do nguồn nước bị ô nhiễm, cá nuôi chậm lớn, thậm chí bị bệnh, cho nên nhiều chủ bè thua lỗ nặng phải bỏ đi nơi khác kiếm sống.

Góp vào câu chuyện mưu sinh trên lòng hồ thủy điện, anh Võ Văn Tài, quê ở Tiền Giang, than thở: "Vợ chồng tôi dựng bè đánh bắt cá kiếm sống khi đứa con đầu lòng mới được năm tuổi. Lúc đầu là lòng hồ Thủy điện Trị An, mình nghĩ làm một thời gian rồi lên bờ cất nhà sinh sống, nhưng rồi số phận cứ đưa đẩy hết hồ Thủy điện Trị An đến lòng hồ Hàm Thuận 1-2, Thác Mơ, Ðại Ninh và nay là hồ Thủy điện Ðồng Nai 3, đứa con đầu nay đã 20 tuổi nhưng vẫn chưa lên bờ được". Theo ông Diên, anh Hậu, anh Tài thì mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá rất bấp bênh. Cứ đến một nơi mới, làm ăn được vài ba năm là nguồn lợi thủy sản tự nhiên bắt đầu cạn kiệt. Muốn đầu tư làm lồng nuôi cá thì không có vốn, cho nên cứ lang thang hết hồ này lại đến hồ khác, nhiều gia đình ở đây trải qua năm, bảy hồ và hai ba đời theo nghề đánh bắt cá. "Phận người đánh bắt cá cứ dập dềnh trôi nổi theo sóng nước, nay đây mai đó không biết đâu là bến bờ của cuộc đời", ông Diên buồn rầu cho biết.

Chủ tịch UBND xã Ðác Som (huyện Ðác Glong) K'Tang cho biết: "Hiện có khoảng 50 hộ dân sinh sống bằng nghề đánh bắt cá và nuôi cá trên lòng hồ Thủy điện Ðồng Nai 3. Các hộ dân ở đây thường xuyên dao động, lúc thì thuộc địa bàn xã Ðác Som, lúc chuyển sang địa bàn huyện Di Linh, tỉnh Lâm Ðồng. Vì vậy, địa phương cũng chỉ kiểm tra, bảo đảm an ninh - trật tự và tạo điều kiện thuận lợi cho bà con làm ăn, sinh sống... Còn việc ổn định cuộc sống lâu dài cho những hộ dân này không thuộc thẩm quyền của xã". Do không ở ổn định và cuộc sống khó khăn, cho nên việc học hành của con em họ cũng hết sức bấp bênh, gập ghềnh như những con đường mòn vượt sông suối, núi rừng lên đỉnh núi Tà Ðùng vậy.

Bấp bênh con chữ

Trở lại câu chuyện của vợ chồng ông Nguyễn Văn Diên, ông có ba người con, do cuộc sống nay đây mai đó nên hai người con đầu chỉ học đến lớp bốn, lớp năm thì bỏ học, nay đã lập gia đình và cũng theo nghiệp cha mỗi người dựng một bè để ở và mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá trên lòng hồ Thủy điện Ðồng Nai 3. Nghe tin chúng tôi ghé thăm, Nguyễn Văn Toàn, 26 tuổi, con đầu ông Diên ở bè bên cạnh chèo xuồng đưa hai cháu nhỏ sang chơi. Toàn cho biết: "Từ nhỏ, em đã theo cha mẹ lênh đênh mưu sinh kiếm sống trên nhiều lòng hồ thủy điện, sông suối. Những tưởng khi lớn lên mình sẽ được lên bờ sinh sống, nhưng vì bỏ học sớm, không có nghề, không có vốn, cho nên không biết làm gì. Năm 22 tuổi, em lập gia đình và theo cha mẹ về đây dựng bè, làm nghề đánh bắt cá". Người con út của ông Diên là Nguyễn Văn Mãi, năm nay tám tuổi, đang học lớp 2 tại Trường tiểu học Lê Văn Tám tận trung tâm xã Ðác Som, cách lòng hồ 10 km. Do bận mưu sinh nên hằng ngày, vợ chồng ông phải thuê người chở mãi ra xã học với tiền công 50.000 đồng/ngày. Ông Diên chia sẻ: "Làng chài này cách trung tâm xã 10km, giao thông đi lại cách trở, đèo dốc nên việc học chữ của các cháu cũng bấp bênh. Trước mắt cho cháu học để biết chữ, khi nào cháu không thích học nữa thì ở nhà nối nghiệp cha mẹ đánh bắt cá mưu sinh chứ biết làm gì bây giờ".

Theo giới thiệu của ông Diên, chúng tôi ghé thăm chiếc bè của ông Chín, bà Năm, cặp vợ chồng già nhất ở làng chài này. Bà Năm, người dân tộc Khmer, bà kể: "Vợ chồng tôi quê tận vùng biên giới Tịnh Biên, tỉnh An Giang, ở quê nghèo quá, già rồi không biết làm gì nên theo con cháu lên đây phụ giúp mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá, nuôi cá. Ở đây đã hơn ba năm rồi nhưng cuộc sống chẳng đỡ hơn chút nào, trong khi các cháu nhỏ lại không được học hành, mù chữ". Cháu ngoại của bà, năm nay đã hơn 15 tuổi nhưng nói tiếng phổ thông chưa rõ và mù chữ. Bà Năm rưng rưng nước mắt: "Không chỉ có thằng cháu tôi mà hơn chục đứa trẻ ở đây đều thất học. Cuộc đời chúng rồi cũng gắn bó với những chiếc bè dập dềnh theo sóng nước này chứ biết làm gì kiếm sống khi không biết con chữ".

Nghe những lời tâm sự của bà Năm, lòng chúng tôi như thắt lại. Những gia đình trôi dạt về đây mưu sinh, ai cũng nuôi hy vọng ngoài cái ăn, cái mặc hằng ngày còn lo cho con cái học hành để sau này không phải lặp lại cảnh đời cơ cực như cha mẹ. Nhưng với cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên của các hộ dân ở làng chài này thì việc học chữ của con em họ có lẽ mãi chỉ là khát vọng...

Chia tay làng chài, chúng tôi mang câu chuyện làm thế nào để giúp gần 50 gia đình ở làng chài này trao đổi với các ngành chức năng huyện Ðác Glong và tỉnh Ðác Nông nhưng không nhận được câu trả lời, bởi họ không phải là cư dân của địa phương. Và như vậy, có lẽ họ vẫn tiếp tục phải mưu sinh hết lòng hồ thủy điện này đến lòng hồ thủy điện khác...

NGUYỄN VĂN YÊN