Du lịch, ngành kinh tế mũi nhọn ở Ninh Bình :

Bài 2 : Làm thế nào để phát triển du lịch bền vững ?

Thứ Tư, 03/07/2013, 07:30:00
NDĐT– Tính chuyên nghiệp trong kinh doanh du lịch Ninh Bình chưa cao và chưa thật sự bền vững, lôi cuốn du khách, do chủ yếu vẫn dựa vào những lợi thế tự nhiên sẵn có.
Bài 2 : Làm thế nào để phát triển du lịch bền vững ?

Du lịch trên sông trong khu sinh thái Tràng An.

Lợi thế tự nhiên không đủ

Năm 2009, Tỉnh uỷ Ninh Bình ra Nghị quyết 15 và UBND tỉnh Ninh Bình có kế hoạch số 07/UB về phát triển du lịch, nhờ đó tiềm năng của vùng đất cố đô dường như ngủ yên hàng nghìn năm nay được đánh thức. Chỉ tính riêng năm 2012, Ninh Bình đón 3,75 triệu lượt khách, tăng 70% so với năm 2009, trong đó có gần 675 ngàn lượt khách quốc tế. Sáu tháng năm 2013 các khu du lịch tỉnh đón khoảng 3,7 triệu lượt khách. Tỉnh hiện có 235 cơ sở lưu trú (tăng 117% so với năm 2009) với 3.628 phòng nghỉ (tăng 115,8 % so với năm 2009), trong đó thêm 527 phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn 3 - 5 sao tại các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, với hơn 10 nghìn người tham gia các dịch vụ thương mại, nhà hàng khách sạn.

“UBND tỉnh khảo sát, nghiên cứu, lập đề án và phát triển các sản phẩm, dịch vụ du lịch như : làng hoa đào phai (xã Đông Sơn - Thị xã Tam Điệp), làng hoa (Ninh Sơn, Ninh Phúc, TP Ninh Bình), làng nghề thêu Văn Lâm (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư), làng đá Mỹ Nghệ (xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư), làng nghề cói ở Kim Sơn”, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình Bùi Văn Thắng nói. Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống là một trong những hướng mở để lao động nông thôn có việc làm và tăng thu nhập. Đồng thời tỉnh Ninh Bình phối hợp với Tổ chức kỷ lục Việt Nam công nhận đặc sản dê núi Trường Yên vào top 50 món ăn nổi tiếng Việt Nam, rượu Kim Sơn vào top 10 đặc sản rượu nổi tiếng Việt Nam; nem Yên Mạc vào 10 đặc sản nem chả nổi tiếng Việt Nam, đặc biệt cơm cháy Ninh Bình vào tốp 50 món ăn nổi tiếng Việt Nam và được công nhận kỷ lục Châu Á.

“Bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là công việc được các cấp các ngành ở Ninh Bình quan tâm”, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình Lâm Quang Nghĩa cho biết. Tỉnh hiện có 1.499 di tích, trong đó 301 ngôi chùa, 229 đình, 381 đền, 98 miếu, 51 phủ, ngoài ra còn 149 nhà xứ, 236 nhà thờ họ, hai di tích được công nhận di tích cấp quốc gia đặc biệt, 77 di tích cấp quốc gia, 210 di tích cấp tỉnh. Năm 2011, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng Đề án Khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Xẩm giai đoạn 1 và giao cho Nhà hát Chèo Ninh Bình mời các nghệ nhân, nghệ sĩ ở địa phương và Trung ương sưu tầm, biên soạn và truyền dạy các làn điệu Xẩm để bảo tồn, phát triển, biểu diễn phục vụ khách du lịch và nhân dân. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã chỉ đạo xây dựng bốn đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể khác: đề án bảo tồn và khai thác hát Văn ở Phủ Đồi Ngang, xã Phú Long, huyện Nho Quan, đề án bảo tồn và khai thác múa trống dân gian xã Khánh Tiên, huyện Yên Khánh, đề án bảo tồn văn hóa cồng chiêng xã kỳ Phú, huyện Nho Quan, đề án bảo tồn khai thác quy trình công nghệ sản xuất mắm tép ở thị trấn Me, huyện Gia Viễn.

Tuy nhiên, việc quản lý Quy hoạch ở một số khu, điểm du lịch còn bị buông lỏng, vẫn còn tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư không đúng theo quy hoạch đã duyệt, làm phá vỡ cảnh quan di tích và thắng cảnh, như ở Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động. Bên cạnh đó, không ít nhà đầu tư chưa quyết tâm để triển khai dự án, thậm chí có nhà đầu tư còn tư tưởng giữ đất chờ chuyển nhượng, gây tâm lý bức xúc trong dư luận. Hiệu quả kinh doanh du lịch vẫn ở mức khiêm tốn, số lượt khách du lịch tăng nhanh nhưng doanh thu du lịch, nộp ngân sách, mức chi tiêu, số lượng khách lưu trú và thời gian lưu trú của khách tại Ninh Bình còn thấp.

Vẫn còn hiện tượng chèo kéo, đeo bám du khách để bán hàng ở khu di tích đền thờ vua Đinh- vua Lê gây tâm lý khó chịu đối với du khách. Tính chuyên nghiệp trong kinh doanh du lịch chưa cao và chưa thật sự bền vững, sức hấp dẫn của du lịch Ninh Bình chủ yếu vẫn dựa vào những lợi thế tự nhiên sẵn có. Sản phẩm và dịch vụ tại các khu, điểm du lịch tuy được cải thiện nhưng vẫn đơn điệu, chất lượng dịch vụ, nhất là dịch vụ ăn, nghỉ còn thấp. Các khu du lịch thiếu nhiều dịch vui chơi giải trí, văn hóa, mua sắm... làm giảm tính hấp dẫn đối với du khách.Việc quản lý phí tham quan, phí chở đò, phí trông coi xe và giá cả dịch vụ ở một số khu, điểm du lịch còn buông lỏng. Việc quảng bá, xúc tiến du lịch ở một số khu chưa chuyên nghiệp và việc thực hiện xã hội hóa trong dịch vụ chưa nhiều, hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch chủ yếu vẫn thực hiện bằng nguồn Ngân sách Nhà nước; việc tham gia các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch ở nước ngoài chưa được thường xuyên. Dịch vụ kinh doanh lữ hành nhất là lữ hành quốc tế còn hạn chế.

Ngoài ra, cũng cần nói rằng vẫn còn một bộ phận cán bộ lãnh đạo, đảng viên ở các cấp, các ngành và nhân dân chưa nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc phát triển du lịch trong sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn thiếu và yếu cả về chuyên môn và thái độ phục vụ. Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch chưa hoàn chỉnh. Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, chưa phong phú và thiếu hấp dẫn để thu hút khách. Hoạt động kinh doanh lữ hành và vận chuyển khách du lịch chưa được quan tâm đúng mức. Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch thiếu tính chuyên nghiệp và chưa đồng bộ. Ngành Du lịch còn thiếu chủ động, vai trò tham mưu còn hạn chế. Công tác thống kê và điều tra cơ bản về du lịch chưa phản ánh hết các lĩnh vực, việc thống kê còn tính trùng, tính sót.

Làm thế nào để phát triển du lịch bền vững ?

Trong lần trao đổi mới đây với các đồng chí lãnh đạo địa phương, tôi được biết các cấp, các ngành ở Ninh Bình đang có những điều chỉnh kịp thời. Cụ thể, ngành du lịch của tỉnh thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức huấn luyện nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm dịch vụ ở các khu du lịch. Mặt khác, ngành du lịch còn phối hợp với ngành chức năng tổ chức quy hoạch những điểm du lịch, xây dựng đề án phát triển du lịch đến năm 2020 tầm nhìn 2050. Những dự án du lịch thân thiện với môi trường, sử dụng lao động tại chỗ được ưu tiên. Để bảo đảm môi trường văn hóa du lịch, chính quyền cơ sở tổ chức tốt việc quản lý lao động tham gia vào các dịch vụ du lịch, bao gồm chụp ảnh, lái đò, kinh doanh văn hoá phẩm trong các khu du lịch, không để tái diễn hình ảnh chèo kéo du khách. Ngay trong dịp lễ hội đầu năm 2013, khu du lịch đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng- Lê Đại Hành và chùa Bái Đính, cấp chính quyền đã đưa toàn bộ số quán bán hàng ra ngoài khu vực đền thờ. Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Bình tổ chức thu gom những đối tượng ăn xin ở khu du lịch đưa về cơ sở dưỡng lão để tổ chức sản xuất và không làm mất vẻ đẹp văn hoá tại các khu du lịch. Ngoài ra, Hội Nông dân tỉnh Ninh Bình, Hội phụ nữ tỉnh còn tổ chức dạy nghề truyền thống như thêu ren, làm gốm, chăn nuôi con đặc sản cho những lao động nông thôn để tạo thêm nhiều sản phẩm bán hàng tại khu du lịch. Đồng thời, nghề sản xuất nấm, hàng thủ công mỹ nghệ từ cói, bèo bồng đang được các cấp chính quyền và đoàn thể cơ sở khuyến khích phát triển.

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có tới hơn 20 nghìn lao động nông thôn tham gia sản xuất các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp trong đó mặt hàng thêu ren, cói mỹ nghệ, nấm các loại được khách đến Ninh Bình du lịch ưa thích. Hiện nay, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình đang khuyến khích cơ sở phát triển các loại con đặc sản vốn có tại quê hương từ hàng trăm năm như cá rô Tổng Trường, dê núi, chim công, gà rừng, lợn rừng lai,v.v để cung cấp cho du khách trong nước và nước ngoài.

Mặt hàng đá mỹ nghệ Ninh Vân, Thêu ren Văn Lâm vốn là sản phẩm truyền thống hàng trăm năm đang tiếp tục được khối phục và phát triển... Tất cả những nỗ lực ấy đều hướng tới một nền kinh tế - xã hội phát triển trên vùng đất có bề dày văn hoá hàng nghìn năm.

ĐỖ TẤN

Theo